Một số loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất trên thế giới

Một số loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất trên thế giới

5 (100%) 1 vote

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam là sáng tạo hết sức đặc sắc trong đời sống văn hóa của cha ông ta. Tìm hiểu về những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam được đánh giá là độc đáo nhất trên thế giới. 

Khái quát về nhạc cụ dân tộc Việt Nam

Tin liên quan

>>Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

>>Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam là những tìm tòi và phát minh ra những đồ vật có khả năng phát ra âm thanh. Đây là có thể là những đồ vật, vật thể có sẵn trong tự nhiên và gần gũi với đời sống con người như hòn đá, ống tre, ống nứa…

nhạc cụ dân tộc việt nam

Những loại nhạc cụ dân tộc cho ra những thứ âm thanh độc đáo, không thể bắt chước. Dù cho nhạc cụ hiện đại ngày càng phổ biến và phát triển nhưng nhạc cụ dân tộc vẫn có vai trò quan trong trong văn hóa người Việt. Nó đại diện cho văn minh của từng cộng đồng người, từng địa phương.

Ở Việt Nam có hàng trăm nhạc cụ dân tộc, trong đó có hàng chục loại nhạc cụ vô cùng độc đáo, đặc sắc và được đánh giá cao về chuyên môn.

Những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất

Sáo trúc

sáo trúc

Cha ông ta từ xa xưa đã biết cách biến những thân cây trúc hoặc tre vừa dài vừa thô thành một loại nhạc cụ phát ra thứ âm thanh cao vút. Chỉ những thân cây tre hoặc trúc nhỏ với đường kính khoảng 1.5cm mới có thể làm được sáo. Cây sáo thường dài 30cm, trên thân ống được khoét một lỗ thổi có lưỡi gà, và có 6 hoặc 10 lỗ bấm.

Hình ảnh cây sáo thường gợi lên cuộc sống nông thôn yên bình, những đứa trẻ chăn trâu thổi sáo ngoài cánh đồng…

Sáo trúc có thể độc tấu hoặc hòa tấu cùng dàn nhạc cổ truyền hay dàn nhạc giao hưởng thính phòng.

Đàn bầu

đàn bầu

Đàn bầu hay còn gọi độc huyền cầm là một loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam hết sức độc đáo. Độc huyền cầm nghĩa là đàn chỉ có một dây. chạy dài theo thân đàn. Trước đây dây đàn được làm bằng tơ tằm, cần đàn được làm bằng tre. Ngày nay, dây đàn được thay bằng sắt, cần đàn được làm bằng sừng trâu.

Đàn bầu có hai loại làm bằng thân tre hoặc thân gỗ. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc gỗ tiện hình nậm bầu. Còn trục lên dây bằng tre hoặc gỗ. Que gẩy đàn được gót bằng giang hoặc song, có đầu nhọn và được làm bông lên.

Âm thanh của đàn bầu vừa trầm ấm vừa thê lương, vừa sâu lắng vừa ai oán đi vào lòng người.

Đàn nhị

đàn nhị

Đúng như tên gọi, đàn nhị có nghĩa là đàn có hai dây, có tên gọi khác là đàn cò. Một cây đàn nhị có cấu tạo gồm năm phần: cần đàn, thùng đàn, thủ đàn, ngựa đàn và dây đàn.

Đàn nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng 8, âm thanh trong trẻo, cao vút thường được ví như những tiếng hờn nỉ non.

Đây là loại đàn giữ vai trò chủ đạo trong hát xẩm. Nhạc cụ này cũng không thể thiếu trong dàn nhã nhạc, phường bát âm, biểu diễn chầu văn…

Ngoài người Kinh, một số tộc người khác cũng sử dụng đàn nhị như người Tày, người Nùng, Mường, Dao, Giáy…

Phách

phách

Phách là thể loại nhạc cụ bộ gõ, phổ biến trong nhiều thể loại ca múa nhạc Việt Nam. Cấu tạo của phách gồm có bàn phách, tay ba và hai lá phách. Bàn phách là miếng tre dài khoảng 30 cm, bản rộng khoảng 4 cm. Hai lá phách là dùi gõ kép. Người chơi cầm 2 lá phách chập vào nhau để gõ vào mặt bàn phách. Tay ba là dùi gõ thường được làm bằng gỗ mít, dài như 2 lá phách, thường được người chơi cầm bằng tay trái.

Trong mỗi loại hình biểu diễn, phách lại có tên gọi khác nhau. Trong diễn tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian thì chỉ gọi là phách. Trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang, trong hát xẩm gọi phách là cặp kè; trong ca Huế phách gọi là sênh (hoặc sênh tiền)…

Cồng chiêng

cồng chiêng

Cồng chiêng là nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng nhiều dân tộc ở các quốc gia Đông Nam Á. Tại Việt Nam, cồng chiêng có mặt trong đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và người Mường ở phía Bắc.

Cồng chiêng thuộc bộ gõ, làm bằng chất liệu đồng, thau, hình dạng gần giống như chiếc nón quai thao. Cồng chiêng có kích thước khá đa dạng từ 20 – 60 cm.

Cồng chiêng là tên gọi chung nhưng cồng và chiêng có nhiều điểm khác nhau. Cồng có núm, còn chiêng không có núm.

Cồng chiêng được sử dụng trong nhiều dịp như mừng vụ mùa bội thu, mừng già làng trưởng bản hay các dịp lễ hội trong năm…

Đàn đá

Đây được coi là loại nhạc cụ thuộc bộ gõ lâu đời nhất của Việt Nam. Từ xa xưa, cha ông ta đã chọn lọc chế tác những tảng đá thô sơ thành những tảng đá có thể phát ra âm thanh.

Bất kỳ tảng đá nào có kích thước và hình dạng khác nhau có khả năng phát ra âm thanh sẽ được gọt dũa và sử dụng.

Tảng đá dày và to cho âm thanh trầm, chắc, tảng đá nhỏ và mỏng cho tiếng nhẹ nhàng, âm cao.

Đàn đá phổ biến trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và người Khmer ở Nam Trung Bộ. Do đặc điểm dân cư gắn liền với núi rừng thiên nhiên, con người chế tạo ra loại đàn đá phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Đàn T’rưng

đàn t'rung

Đàn T’rưng cũng loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên. Cái tên “t’rưng” là xuất phát từ tiếng Gia Rai.

Loại đàn này làm bằng ống tre hoặc nứa có kích thước khác nhau. Các ống có đường kính 3-4 cm, dài từ 40- 70 cm. Mỗi ống giữ nguyên các đầu mấu để bịt một đầu ống, còn đầu kia được gọt vát một phần ống để tạo âm theo chuỗi hàng âm.

Phổ biến một cây đàn T’rưng hiện nay có khoảng 12 đến 16 ống xếp hàng ngang trên giá theo thứ tự từ lớn đến nhỏ từ dài đến ngắn.

Người ta chơi đàn T’rưng bằng cách dùng dùi gõ vào các ống. Các ống to nhỏ dài ngắn khác nhau sẽ cho ra những âm thanh cao thấp trầm bổng khác nhau. Ống tre to và dài cho ra âm thanh trầm, những ống nhỏ và ngắn cho ra những âm cao. Tiếng đàn t’rưng cho ta cảm giác những âm thanh chỉ có trong núi rằng tự nhiên như: tiếng suối róc rách, tiếng xào xạc của rừng tre nứa khi gió thổi, tiếng thác đổ…

avolution.com.vn – Âm Nhạc