Cổ phần hóa là gì? Công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Cổ phần hóa là gì? Công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Tìm hiểu rõ khái niệm cổ phần hóa là gì? Bản chất của cổ phần? Chi tiết công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.

Cổ phần hóa là gì?

Kể từ công cuộc Đổi mới đất nước năm 1986 đến nay, kinh tế nước nhà chuyển dần từ chế độ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường. Tư duy đổi mới kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải được cổ phần hóa. Vậy cổ phần hóa là gì?

cổ phần hóa là gì

Cổ phần hóa là cách gọi tắt của việc chuyển đổi doanh nghiệp doanh nhà nước thành công ty cổ phần.

Nói cách khác, cổ phần hóa là giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp đang giữ 100% số vốn nhà nước. Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Tại sao phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Giải quyết vấn đề của khu vực kinh tế quốc doanh

tại sao phải cổ phần hóa

Thực tế kinh tế Việt Nam kể từ khi chuyển hướng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn. Hình thức kinh tế nhà nước không còn phù hợp dẫn tới làm ăn thua lỗ, nhà nước phải liên tục bù lỗ.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ xác định chính xác chủ sở hữu của tư liệu sản xuất, tạo động lực cạnh tranh trong sản xuất.

Cổ phần hóa là kêu gọi và huy động nguồn nhân lực, tài chính và sức lao động trong nhân dân từ đó giảm bớt gánh nặng kinh tế cho nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước phần lớn chỉ ở quy mô nhỏ và vừa không đáp ứng được sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. Thống kê năm 1996, khối kinh tế quốc doanh có 33% doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn 1 tỷ đồng, 50% trong số đó có số vốn nhỏ hơn 500 triệu đồng; chỉ có 30% doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ đồng.

Cơ chế quản lý của doanh nghiệp nhà nước còn tương đối yếu kém, thủ tục hành chính rườm rà, dễ nảy sinh tiêu cực, không có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.

Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển tự do, năng động

Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cho phép doanh nghiệp phát huy tính sáng tạo, năng động trong sản xuất kinh doanh.

Doanh nghiệp không gặp phải những ràng buộc của nền kinh tế bao cấp, tiếp cận nhanh với sự phát triển khoa học kỹ thuật để hội nhập nền kinh tế thế giới.

Khi doanh nghiệp cổ phần hóa, tư nhân tự làm chủ tài của mình do đó lãnh đạo và nhân viên được gắn chặt trong một mối lợi ích và trách nhiệm, không còn thái độ ỷ lại, tạo động lực tích cực trong sản xuất kinh doanh.

Hạn chế trong công cuộc cổ phần hóa

bất cập của cổ phần hóa

Công cuộc cổ phần hóa dù mang lại nhiều lợi ích kinh tế đất nước nhưng cũng không tránh khỏi một số hạn chế, khuyết điểm.

Trước hết, trong quá trình kiểm kê tài sản chuẩn bị cho công cuộc cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp thực hiện không sát sao, dễ dẫn tới khai khống, bóp méo con số thống kê tài sản để tư lợi. Sai phạm trong kiểm tài sản công còn kéo theo sai phạm trong định giá tài sản doanh nghiệp.

Quá trình bán cổ phần cho cá nhân/pháp nhân cũng dễ phát sinh tiêu cực. Nhiều doanh nghiệp lợi dụng chính sách bán cổ phần ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên chức chưa đủ điều kiện về thời gian làm việc hoặc những người đã chuyển sang làm việc tại đơn vị khác.

Thậm chí còn xảy ra trường hợp công ty bán cổ phần cho người ngoài công ty theo giá sàn. Những hành vi này vi phạm nghiêm trọng các quy định về thực hiện chính sách đối với người lao động khi chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

Bên cạnh đó, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn một số hạn chế khác trong thu hồi vốn bán cổ phần hay chậm trễ trong việc tái sử dụng nguồn vốn để tái thiết lại doanh nghiệp…

Công cuộc cổ phần hóa tại Việt Nam

các giai đoạn cổ phần hóa tại việt nam

Công cuộc cổ phần hóa được được đề xuất và thử nghiệm từ những năm 1990 – 1991, đến năm 1992 thì chính thức đưa vào thực hiện. Công cuộc cổ phần hóa được đẩy mạnh nhất vào năm 1996 và đến năm 2010 thì được đánh giá là cơ bản hoàn thành.

Giai đoạn từ 1990 – 1996: Bước đầu thử nghiệm

Những năm đầu của thập kỷ 1990, hàng loạt doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, buộc nước ta phải tìm đến từ giúp đỡ của các thể chế tài chính toàn cầu như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADP)…

Thời điểm này, Đảng và Nhà nước nhận thấy sự bất cập của khối doanh nghiệp quốc doanh nên bắt đầu tiến hành thực hiện cải cách nền kinh tế theo đề xuất của các tổ chức quốc tế.

Thời gian đầu tiên, chủ trương cải cách, Chính phủ Việt Nam còn thực hiện một cách miễn cưỡng bằng cách không bán đứt cổ phần doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân mà chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần.

Nhà nước chia tài sản của doanh nghiệp thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp. Nhà nước giữ lại một phần cổ phần sở hữu, tùy thuộc vào quy mô doanh nghiệp đó.

Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về việc lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử nghiệm chuyển đổi thành công ty cổ phần. Kết quả là trong năm 1990-1991 có 2 doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa.

Từ đó đến tháng 4 năm 1996, cả nước có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa. Đối với các công ty này, Nhà nước chỉ cho phép tư nhân được mua tối đa 20 – 35% cổ phần, Nhà nước giữ lại từ 20-30% cổ phần.

Giai đoạn từ 1996 – 2001: Chính thức thực hiện

Với kinh nghiệm cổ phần hóa của những doanh nghiệp trên, năm 1996 Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn.

Ngày 7/5/ 1996 Chính phủ ban hành Nghị định 28/CP yêu cầu các bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đến năm 1997.

Theo tinh thần của Nghị định 28/CP, các bộ ngành xem xét chọn những doanh nghiệp mà Nhà nước không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn làm đối tượng cổ phần hóa.

Đến ngày 26 tháng 3 năm 1997, Nghị định số 25/CP của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương mở rộng quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử. Cụ thể, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống dựa trên cơ sở Nghị định số 28/CP.

Tổng kết đến cuối năm 1997 đã có 25 doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần.

Dù đã có khá nhiều doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần, thế nhưng phải đến ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ Việt Nam mới quyết định chính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa bằng Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Theo đó, đối với doanh nghiệp có cổ phần phát hành lần đầu được chuyển đổi (Nhà nước vẫn nắm quyền chi phối) thì, các cá nhân chỉ được mua tối đa 5% và pháp nhân không được phép mua quá 10%.

Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tối đa 10% và pháp nhân được phép mua tối đa 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu.

Các cá nhân và pháp nhân được phép mua không hạn chế cổ phần của các doanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu. Số tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng vào việc đào tạo lại lao động,phân bổ lại nguồn nhân lực và bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước khác.

Tổng kết kể từ Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đến hết năm 2001, cả nước có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

Giai đoạn từ 2001 – 2010: Đẩy mạnh và hoàn thiện

Sau thời gian dài thử nghiệm và ổn định, đến những năm 2001, trở đi, Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp.

Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết của Trung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngày 08/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Đến ngày 19/6/2002 Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới trong công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp của nước nhà.

Chính phủ mở rộng cổ phần hóa doanh nghiệp thêm nhiều hình thức khác. Cụ thể, Nhà nước cho phép bán toàn bộ hoặc một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nhà nước cho phép cổ phần hóa bằng hình thức giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.

Ngoài ra doanh nghiệp có thể thực hiện bán một phần/toàn bộ vốn nhà nước hiện kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.

Nhà nước chỉ giới hạn đối với cổ phần phát hành lần đầu. Theo đó, các nhà đầu tư trong nước được phép mua không hạn chế. Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30%.

Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP đánh dấu thêm một bước tiến mới trong công cuộc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

Theo đó đối tượng cổ phần hóa được mở rộng ra các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và cả chính tổng công ty nhà nước. Nếu Nhà nước không còn muốn chi phối thì các công ty này đều có thể trở thành đối tượng cổ phần hóa.

Nghị định này cũng đưa ra một quy định mới là việc bán cổ phần lần đầu. Đối với những công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng thì việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán.

Nếu doanh nghiệp có số vốn trên 1 tỷ đồng thì phải bán cổ phần lần đầu tại các trung tâm tài chính. Còn nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng thì thực hiện bán cổ phần lần đầu ngay tại công ty.

Việc bán đấu giá cổ phần lần đầu sẽ đẩy giá cổ phiếu của các công ty nhà nước lên cao, đem lại nguồn thu lớn cho nhà nước. Một số công ty đã thực hiện theo chủ trương này và thu lợi lớn như: Nhà máy thiết bị bưu điện, Công ty sữa Việt Nam, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh, Công ty điện lực Khánh Hòa…

Bên cạnh đó, việc bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ tạo động lực phát triển cổ phiếu trong nước. Bằng chứng là tính đến 31/10/2005, có tới 29 trên tổng số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.

Đến năm 2008, cả nước đã có trên 3.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ được cổ phần hóa. Dự trù đến năm 2010, khoảng 2.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn còn lại sẽ hoàn tất cổ phần hóa.

Cũng từ năm 2008, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, thể thao… và bước đầu giành được thành tựu khả quan. Đến năm 2010, công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đánh giá là cơ bản hoàn thành.

avolution.com.vn