Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

Rate this post

Nhạc cổ điển có phải chỉ là hàn lâm châu Âu được biểu diễn trong nhà hát sang trọng. Tìm hiểu kiến thức cơ bản về âm nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam.

Kiến thức cơ bản về âm nhạc cổ điển châu Âu

Định nghĩa nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc bắt nguồn từ truyền thống tế lễ trong tôn giáo ở phương Tây từ khoảng giữa thế kỷ XI. Tuy nhiên, phải đến giữa những năm 1550 và 1900 thì giới chuyên gia và học thuật mới khái quát thành các tiêu chuẩn chính của thể loại âm nhạc truyền thống, cho nên đây gọi là giai đoạn thực hành chung.

Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, thuật ngữ “nhạc cổ điển” bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX là thời kỳ xuất hiện những nhà soạn nhạc thiên tài như: Bach, Beethoven…

Lịch sử phát triển nhạc cổ điển châu Âu

Thời kỳ Trung cổ (trước thế kỷ 15)

Đây là thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại không khuyến khích biểu diễn âm nhạc, vì vậy, âm nhạc thời kỳ này bị suy tàn nghiêm trọng.

Đến thế kỷ thứ V – VII, thánh ca La Mã ra đời và được đặt theo tên của Giáo hoàng Gregory. Tuy nhiên đây chỉ là những giai điệu đơn âm, không có nhạc đệm. 200 năm sau, tức là thế kỷ thứ IX, giới hoạt động nghệ thuật mới bắt đầu sáng tạo ra những âm thanh sống động hơn, phức tạp bằng cách thêm bè vào giọng hát với nhạc thánh ca. Phong cách âm nhạc này gọi là organium và là hình thức âm nhạc phức điệu sớm nhất.

Tới cuối thế kỷ 12, người nghệ sĩ phát triển organium bằng cách thêm ba hoặc bốn bè giọng hát, tạo thanh những bài nhạc dài. Trong giai đoạn này các nhạc sĩ đã phát minh ra những ký hiệu âm nhạc tỉ mỉ với khuông nhạc 4-5 dòng kẻ, ký hiệu nhịp. người có công đâu trong những phát minh này là tu sĩ Ý dòng Benedictine Guido d’Arezzo.

Âm nhạc thời kỳ này đã biết sử dụng các nhạc cụ đàn organ, đàn dây như lyre, psaltery và fiddle thời trung cổ, hoặc đàn viele. hay nhạc cụ gõ như trống nhỏ và chuông.

Thời kỳ Phục hưng (1400 – 1600)

Phong cách âm nhạc được yêu thích thời kỳ này là những bản nhạc êm đềm và lãng mạn. Sau đó các nhà soạn nhạc mà đứng đầu là John Dunstable đã hướng đến sự đẩy mạnh âm nhạc đơn giản, thanh nhã.

Những nhà soạn nhạc thời Phục hưng viết nhạc đối âm bằng kỹ thuật mô phỏng khoảng cách trong một hay nhiều bè giọng có cùng giai điệu từ cuối thế kỷ 14. Hai giọng bè song song gần như cùng lúc, trong đó một giọng sẽ bắt chước theo một giọng khác trong một khoảng thời gian vừa phải hợp lý được gọi là một canon (luân khúc).

Những cặp bè giọng chuyển dịch trong một canon suốt cả tác phẩm hay một phần tác phẩm là đặc trưng của âm nhạc thời Phục Hưng.

Từ cuối thế kỷ 15 nhiều nhà soạn nhạc người Hà lan bắt đầu gây được tầm ảnh hưởng. Người hà Lan ưa thích kiểu âm thanh đồng nhất hơn, đối âm với mọi giọng bè, mỗi bè giọng có màu sắc riêng (một giọng solo được hai nhạc cụ solo khác đệm và trong đó một giọng sẽ trội hơn các giọng khác.

Một số nhà soạn nhạc Hà Lan đi đầu trong âm nhạc giai đoạn này là Jacob Obrecht, Johannes Okeghem, Josquin Desprez và Orlando di Lasso. Bên cạnh đó còn có nhạc sĩ người Ý Giovanni da Palestrina là đại diện cho dòng âm nhạc phức điệu hợp xướng ngang bằng trở thành tiêu chuẩn chính của âm nhạc Phục Hưng.

Thời kỳ Baroque (1600 – 1700)

Khi tính phức điệu của âm nhạc Phục Hưng vẫn còn thịnh hành thì nhiều người ý đã có ý tưởng về công cuộc thay đổi âm giọng và cấu trúc của âm nhạc.

Cuối thế kỷ 16, lần đầu tiên thể loại opera ra mắt và được biểu diễn tại ở Florence bởi nhà soạn nhạc người Ý Claudio Monteverdi.

Thế kỷ 17, khí nhạc ngày càng nổi bật hơn. Một vài khái niệm cơ bản về cấu trúc âm nhạc đã bị biến đổi, đặc biệt là ở Ý. Cụ thể, các nhà soạn nhạc chỉ tập trung vào các phần của soprano hay bass và lấp đầy những khoảng trống những hợp âm thay vì viết những bản nhạc mà trong đó tất cả các giọng từ soprano tới bass tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động âm nhạc.

Các thuật ngữ basso continuo và figured bass liên quan đến bè trầm và việc lấp đầy âm được sử dụng trong tất cả các thể loại âm nhạc, đặc biệt là các bài hát solo.

Cuối thế kỷ 17, khái niệm “khóa nhạc” thống trị nền âm nhạc và tạo ra trào lưu ngầm. Những nhà soạn nhạc nổi tiếng thời kỳ thế kỷ 17 –  thế kỷ 18 là các nhạc sĩ người Ý Alessandro Scarlatti, Domenico Scarlatti, các nhạc sĩ người Đức Heinrich Schutz, Dietrich Buxtehude, nhạc sĩ người Pháp Jean Philippe Rameau.

Thời kỳ cổ điển (1730 – 1820)

Các nhạc sĩ trẻ của thời kỳ này cho rằng đối âm của thời kỳ Baroque quá cứng nhắc khiến âm nhạc mất đi sự tự nhiên. Họ cần điều gì đó phóng khoáng hơn, cảm xúc hơn.

Ở Pháp, giới tinh hoa Pháp đại diện là nhà soạn nhạc người Pháp François Couperin sáng tạo ra phong cách mới gọi là rococo hay style galant (có nghĩa là “phong cách nhã nhặn”).

Phong cách này nhấn mạnh sự hòa hợp của giai điệu cùng với phần đệm âm thanh.

Những dòng nhạc không đứt quãng như thời Fugue thời Baroque được thay thế bằng những đoản khúc riêng biệt, giống như nhạc khiêu vũ. Đàn Harpsichord (clavico) trở thành  loại nhạc cụ phổ biến nhất giai đoạn này.

Người Đức tiếp tục ý tưởng và áp dụng viết một sinfonia khí nhạc độc lập một cách khéo léo. Cũng tại nước Đức chứng kiến sự khác biệt mới giữa phương tiện truyền đạt của âm nhạc thính phòng (chamber music), tức là mỗi nhạc cụ sẽ chơi phần của mình.

Các nhà soạn nhạc thính phòng giai đoạn này bắt đầu phân biệt string quartet (tứ tấu đàn dây), string trio (tam tấu đàn dây) và keyboard sonata (sonata đàn phím) với phần đệm của violin. Với các thể loại cho dàn nhạc, các nhà soạn nhạc không chỉ viết các symphony mà còn cả các concerto cho nhạc cụ solo cùng dàn nhạc.

Thể loại opera thế kỷ 18 cũng có nhiều thay đổi. Ở nước Ý, opera trở thành một loạt aria để người hát phô diễn giọng hát của mình. Một số nhà soạn nhạc châu Âu coi interlude và accompaniment khí nhạc như một yếu tố quan trọng…

Opera thời kỳ Cổ điển được coi là đạt tới đỉnh cao trong các tác phẩm sân khấu của Mozart. Ở đó, mọi khía cạnh của thanh nhạc lẫn khí nhạc đều góp phần vào sự phát triển của cốt truyện và sự mô tả tính cách nhân vật.

Thời kỳ Lãng mạn (1800 – 1910)

Đây là thời kỳ thăng hoa rực rỡ của thể loại opera thính phòng khi mà các tác phẩm của Haydn, Mozart, Beethoven chiếm lĩnh toàn bộ châu Âu. Thời gian này trường phái thẩm mỹ Lãng mạn đang lên cao ở Đức và Trung Âu. Các nhà soạn nhạc thời kỳ này thường lấy cảm hứng từ văn học, hội họa hay… dẫn đến sự ra đời của thể loại thơ giao hưởng.

âm nhạc cổ điển châu âu

Chính các bài thơ giao hưởng trong giai đoạn này lại là cơ sở đề hình thành nên thứ âm nhạc khắc họa hình ảnh và tâm trạng của lời ca. Người Đức gọi những bài hát nghệ thuật của họ là lied (số nhiều là lieder). trong thế kỷ 19 đã có hàng trăm lieder được viết. Những nhà soạn nhạc của thể loại này là Johannes Brahms, Franz Schubert, Robert Schumann, Hugo Wolff và Richard Strauss.

Thế kỷ 19, opera lên ngôi. Những nhà soạn nhạc Gasparo Spontini và Giacomo Mayerbeer ở Pháp sáng tạo ra thể loại grand opera. Trong khi đó, Jacques Offenbach phát triến thể loại comic-opera.

Còn tại Ý, phong cách opera truyền thống bel canto từ thế kỷ 18 vẫn được tiếp tục. Tại Đức, Richard Wagner sáng tạo ra một phong cách opera mới mang tính kịch và triết học cao gọi nhạc kịch (drama music). Wagner hướng tới xây dựng những đoạn nhạc ngắn của giai điệu và hòa thanh, gọi là leitmotifs (motif chủ đạo).

Những nhạc sĩ để lại dấu ấn trong thế kỷ 19 là Schubert, Schumann, Brahms, nhạc sĩ người Đức Felix Mendelssohn, Nhạc sĩ người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky,  nhạc sĩ người Áo Anton Bruckner, nhạc sĩ Ba Lan Frederic Chopin với thể loại âm nhạc không tiêu đề rất phóng khoáng.

Cuối thế kỷ 19, phong cách âm nhạc Lãng mạn có thay đổi chút ít bởi sự phát triển của hợp âm.

Thời kỳ Hiện đại (1890 – 1975)

Đầu thế kỷ 20, khoa học công nghệ phát triển khiến giới nhạc sĩ và người hoạt động nghệ thuật cũng phải thay đổi. Nhóm nhạc sĩ ở Vienna đứng đầu là Arnold Schoenberg cho rằng nên từ bỏ tính điệu trong âm nhạc. Phản ứng với đề xuất này, nhạc sĩ Rachmaninov vẫn trung thành với chủ nghĩa lãng mạn tới tận năm 1940 trong khi những người khác như Sibelius thì ngừng sáng tác.

Nhiều nhà soạn nhạc khác lấy cảm hứng từ âm nhạc dân gian. Tuy nhiên, yếu tố ảnh hưởng nhất tới âm nhạc thời kỳ này chính là đời sống chính trị  – xã hội châu âu. Ví dụ, George Gershwin hay Duke Ellington sau đó đã viết ra một thứ âm nhạc sang trọng để biểu diễn trong phòng hòa nhạc. Những nhạc sĩ tài hoa của châu Âu như Stravinsky và Ravel lại mang cả jazz vào âm nhạc của mình.

Các đề tài bạo lực như chiến tranh Thế giới thứ 2 hay các vụ thảm sát trở thành những đề tài gai góc của các nhà soạn nhạc châu Âu bấy giờ. Có thể kể ra Pierre Boulez, John Cage, Gershwin…

Đặc điểm của âm nhạc cổ điển châu Âu

Trải qua thời gian dài hình thành, phát triển, các nhà nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm chính của dòng nhạc cổ điển châu Âu.

Chất nghệ thuật

chất nghệ thuật

Bản thân âm nhạc đã là một môn nghệ thuật mà âm nhạc cổ điển là nghệ thuật âm nhạc phát triển sớm ở châu Âu. Từ cổ chí kim, âm nhạc là nơi nhạc sĩ gửi gắm tâm hồn, tình cảm trong từng lời ca, giai điệu.

Chất văn học

Có cả một giai đoạn, các nhà soạn nhạc châu Âu lấy cảm hứng sáng tác từ chính văn học, rồi lại từ âm nhạc chuyển thành một thể loại văn học là thơ giao hưởng. Âm nhạc cổ điển được ghi lại bằng các ký hiệu do đó mỗi bản nhạc được lưu lại đều là một tác phẩm văn học.

Chất kỹ nghệ

Người nhạc sĩ không thể viết nhạc mà không có kiến thức về nguyên tắc âm, khí… Âm nhạc cổ điển lại càng đòi hỏi sự hiểu biết kiến thức sâu rộng, uyên thâm hơn.

Tính phát triển và xã hội

Từng thời kỳ từng chế độ, âm nhạc cổ điển lại lại phát triển lên một tầm cao mới cùng với thời đại. Các nhà soạn nhạc thay đổi âm nhạc của mình cùng với sự phát triển xã hội. Sự phát triển tịnh tiến của âm nhạc cổ điển thể hiện từ cách sáng tạo ngôn ngữ và giai điệu, cho tới việc chuyển tài các vấn đề thời cuộc vào bản nhạc.

Âm nhạc cổ điển ở Việt Nam

Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng công chúng Việt Nam đã tiếp cận với âm nhạc cổ điển từ cả trước khi hình thành nền tân nhạc. Có thể, sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp đã đem âm nhạc cổ điển tới với người dân Việt Nam.

nhạc cổ điển việt nam

Từ năm 1928 ở Hà Nội và Sài Gòn đã có những buổi Concert Symphonique. Giai đoạn này, nhiều nghệ sĩ nước ngoài đến biểu diễn các tác phẩm của Mozart, Beethoven, Chopin, Gounod bằng violon và piano.

SAu thời gian dài chỉ biết tiếp nhận, giới trí thức Việt cũng hướng đến một cách tiếp cận khác là chủ động tìm hiểu và học hỏi về âm nhạc cổ điển. Những năm 1954 – 1956 là thời kỳ chuẩn bị lực lượng cho âm nhạc cổ điển Việt Nam một cách thực sự bài bản.

Tạ Bôn, Lã Hữu Toản (violon), Hoàng Đạm (sáng tác), Trần Ngọc Xương, Phạm Đình Sáu, Lê Bích (flute), Hoàng Vân là những lứa nghệ Việt đầu tiên được xuất ngoại sang Trung Quốc học nhạc vào năm 1954.

Tới năm 1956 có Trọng Bằng, Quang Hải, Trần Quý (chỉ huy) trong lứa đầu tiên được du học Liên Xô.

Năm 1959, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam với 114 nhạc công đã được đầu tư ra nước ngoài học tập. Đến năm 1963 những nghệ sĩ này trở về và nước nhà có Nhà hát Giao hưởng – Hợp xướng – Vũ kịch Việt Nam. Nhà hát đã dàn dựng và biểu diễn các tác phẩm lớn của W.A.Mozart, L.v.Beethoven, P.I.Tchaikovsky… và gây được tiếng vang lớn.

Thời kỳ vàng son của nhạc cổ điển Việt Nam là những năm 60 của thế kỷ 20. Nhiều tài năng âm nhạc cổ điển được sản sinh và tạo điều kiện phát triển. Hàng loạt tác phẩm giao hưởng của Việt Nam ra đời và đến được với công chúng. Có thể kể ra những tác phẩm: “Giải phóng Điện Biên” (Hoàng Đạm), “Lửa cách mạng” (Trần Ngọc Xương), “Quê hương” (Hoàng Việt)… Bên cạnh đó là một số nhạc kịch như “Cô Sao” (Đỗ Nhuận), “Bên bờ Krông Pa” (Nhật Lai)…

Thế nhưng đó chỉ là quá khứ. Phải đến những thập niên 2000, âm nhạc cổ điển Việt mới lại được nói đến bởi những cái tên Đặng Thái Sơn, Tôn Nữ Nguyệt Minh… Họ là những lứa tài năng đầu tiên của âm nhạc cổ điển Việt Nam hiện đại, được đầu tư bài bản và đạt thành tích trên trường quốc tế.

Ngoài ra còn nhiều tài năng hứa hẹn khác đã và đang du học và làm việc tại nước ngoài như Hoàng Linh Chi (Tây Ban Nha), Văn Hùng Cường, Nguyễn Hữu Nguyên, Nguyễn Hữu Khôi Nam (Pháp), Trần Hữu Quốc (Hàn Quốc), Quốc Trường (Mỹ), Bích Trà (Anh)…

Trong khi đó, công cuộc tìm kiếm và đào tạo tài năng cho âm nhạc cổ điển Việt hiện vô cùng khó khăn. Tại Nhạc viện TP.HCM, các ngành âm nhạc giao hưởng như viola, trombone, basson, contrebasse… nhiều năm thậm chí không có người học. Do đó, dàn nhạc của Nhà hát nhạc vũ kịch không có thể tuyển người.

Những năm qua, Nhạc viện Tp.HCM đang triển khai nhiều chương trình biểu diễn nhằm đem nhạc giao hưởng tới với các trường học bậc tiểu học và trung học cơ sở, nhằm lan tỏa tình yêu âm nhạc cổ điển và phát hiện tài năng mới. Âm nhạc nước nhà vẫn chưa tìm ra được thế hệ tài năng kế cận Đặng Thái Sơn hay Tôn Nữ Nguyệt Minh…

Nâng cao dân trí âm nhạc cho công chúng Việt là biện pháp duy nhất để duy trì và phát triển âm nhạc cổ điển Việt.