Token là gì? Những điều cần biết về token trong giao dịch ngân hàng

Token là gì? Những điều cần biết về token trong giao dịch ngân hàng

Trong giao dịch ngân hàng, khách hàng chắc chắn phải sử dụng token để bảo mật. Tìm hiểu rõ token là gì và những thông tin cần biết khi sử dụng token trong giao dịch ngân hàng.

Token là gì?

Khái niệm và phân loại

Trong giao dịch ngân hàng, token là tên gọi của loại chữ ký số hay chữ ký điện tử được mã hóa thành những con số thiết bị chuyên biệt.

token là gì

Hiểu đơn giản, mã token chính là một loại mã OTP được tạo ngẫu nhiên trong mỗi giao dịch và chỉ được dùng một lần.

Vậy khi nào cần sử dụng token? Khách hàng/doanh nghiệp thường sử dụng token trong giao dịch thông thường, đặc biệt là giao dịch online vì mục đích bảo mật.

Mã token có giá trị pháp lý như chữ ký cá nhân của bạn trong giao dịch với ngân hàng. Sử dụng mã token để xác nhận giao dịch tức là bạn đã đồng ý ký kết giao dịch mà không cần bất cứ giấy tờ nào

Có hai dạng mã token trong giao dịch ngân hàng:

Hard Token hay còn gọi là token key: Là một thiết bị như chiếc USB nhỏ gọn tiện lợi dùng, có thể luôn mang theo bên mình. Trên thiết bị này hiển thị dãy số có 6 chữ số chính là mã token để sử dụng khi giao dịch. Nên nhớ là dãy số này sẽ thay đổi mỗi phút một lần.

Soft Token: Là một phần mềm được cài đặt trên máy tính/điện thoại/máy tính bảng để cung cấp mã token khi bạn giao dịch.

Token được tạo ra như thế nào?

Bạn đã nắm hiểu rõ token là gì? Vậy cách sử dụng token trong giao dịch ngân hàng như thế nào?

Như đã biết, giao dịch ngân hàng online đòi hỏi yêu cầu bảo mật. Hiện nay, hình thức giao dịch online được cải tiến liên tục nhằm bảo mật tối đa cho người dùng, tránh xảy sự cố lộ giao dịch dẫn tới lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.

Tương tự như chức năng của mã OTP, giao dịch sẽ không được thực hiện khi không có mã token. Nếu như mã OTP được ngân hàng cung cấp qua tin nhắn SMS hay thiết bị của ngân hàng thì mã token được cấp trên phần mềm hoặc thiết bị chuyên biệt.

Mỗi máy token do ngân hàng cung cấp sẽ được gắn với một tài khoản ngân hàng. Người dùng cài đặt mã pin cho máy token như một lớp bảo vệ riêng.

Khi khách hàng giao dịch như mua sắm, chuyển tiền online, thanh toán hóa đơn… máy token sẽ tạo ra một dãy số token gồm 6 chữ số.

Bạn dùng mã này nhập vào bước cuối cùng để thực hiện giao dịch. Chú ý, mã token cũng có hiệu lực trong thời gian ngắn tương tự như mã OTP chỉ 60 giây.

Hiện tại mới chỉ có một số ít ngân hàng áp dụng máy token như: Sacombank, VPBank

HSBC, Techcombank… Khách hàng được cấp máy token phải trả thêm mức phí từ 200.000 – 400.000.

Đánh giá và so sánh về token trong giao dịch ngân hàng

token trong giao dịch ngân hàng

Để hiểu rõ token là gì, hãy tìm hiểu về ưu và nhược điểm của mã token

Ưu điểm:

Mã token được đánh giá là có tính bảo mật tuyệt đối giao dịch của khách hàng. Người dùng chỉ lấy được mã token trên các thiết bị chuyên biệt. mã này có thời gian hiệu lực ngắn và chỉ sử dụng được một lần nên tính an toàn cao. Trừ khi người dùng để lộ nếu không sẽ khó có thể đánh cắp được mã token.

Mã token dễ hiểu, dễ sử dụng ngay cả với người mù công nghệ

Máy token nhỏ gọn, tiện lợi có thể mang đi mọi lúc mọi nơi.

Nhược điểm:

Đối với những người đãng trí thì việc phải mang theo máy token và nhớ mật khẩu sẽ gây ra ít nhiều phiền phức.

Người dùng phải mất thêm một khoản chi phí để sử dụng máy token.

Mã token chỉ có hiệu lực trong 60 giây nên người dùng phải giao dịch khẩn trương.

Token và mã OTP

Có thể nói mã token chính là một hình thức mã OTP khác trong giao dịch ngân hàng.

Token giống mã OTP ở đặc điểm là được tạo ngẫu nhiên trong mỗi giao dịch, có thời gian hiệu lực ngắn và tính bảo mật tuyệt đối.

Điểm khác nhau là người dùng nhận mã OTP qua tin nhắn SMS còn người dùng mã token phải mua thiết bị token hoặc cài đặt phần mềm.

Phân biệt token trong giao dịch ngân hàng và token facebook

Không chỉ được dùng trong giao dịch ngân hàng, hiện nay nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác cũng ứng dụng mã token trong việc bảo mật thông tin cho người dùng.

Tương tự như token ngân hàng, mỗi tài khoản facebook cá nhân, mỗi trang fanpage hay mỗi ứng dụng nào đó đều được facebook tạo ra một mã token để bảo mật.

Token facebook cho phép bạn thực hiện nhiều thao tác trên tài khoản đó dù bạn không phải là chủ tài khoản. Nói cách khác, mã token cho phép bạn hack like, comment hoặc share bài viết…Cũng là mã token nhưng tác dụng của mỗi loại mã là khác nhau.

Hướng dẫn sử dụng token trong giao dịch ngân hàng

Hướng dẫn chi tiết sử dụng mã token trong giao dịch ngân hàng như sau:

Bước 1: Đăng ký tài khoản ngân hàng trực tuyến tại ngân hàng. Đăng nhập vào trang web chính thức của ngân hàng hoặc sử dụng internet banking bằng tên người dùng và mật khẩu đã tạo trước đó.

Bước 2: Thực hiện giao dịch như mong muốn: thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, mua sắm trực tuyến…

Bước 3: Nhập mã token trên thiết bị để hoàn tất giao dịch. Chú ý bảo mật dãy số này.

Trên đây là tất cả những thông tin cần thiết về token là gì và sử dụng token trong giao dịch ngân hàng. Hy vọng bài biết cung cấp những thông tin hữu ích cho người dùng.

avolution.com.vn

Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

Nhạc cổ điển có phải chỉ là hàn lâm châu Âu được biểu diễn trong nhà hát sang trọng. Tìm hiểu kiến thức cơ bản về âm nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam.

Kiến thức cơ bản về âm nhạc cổ điển châu Âu

Định nghĩa nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc bắt nguồn từ truyền thống tế lễ trong tôn giáo ở phương Tây từ khoảng giữa thế kỷ XI. Tuy nhiên, phải đến giữa những năm 1550 và 1900 thì giới chuyên gia và học thuật mới khái quát thành các tiêu chuẩn chính của thể loại âm nhạc truyền thống, cho nên đây gọi là giai đoạn thực hành chung.

Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, thuật ngữ “nhạc cổ điển” bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX là thời kỳ xuất hiện những nhà soạn nhạc thiên tài như: Bach, Beethoven…

Lịch sử phát triển nhạc cổ điển châu Âu

Thời kỳ Trung cổ (trước thế kỷ 15)

Đây là thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại không khuyến khích biểu diễn âm nhạc, vì vậy, âm nhạc thời kỳ này bị suy tàn nghiêm trọng.

Đến thế kỷ thứ V – VII, thánh ca La Mã ra đời và được đặt theo tên của Giáo hoàng Gregory. Tuy nhiên đây chỉ là những giai điệu đơn âm, không có nhạc đệm. 200 năm sau, tức là thế kỷ thứ IX, giới hoạt động nghệ thuật mới bắt đầu sáng tạo ra những âm thanh sống động hơn, phức tạp bằng cách thêm bè vào giọng hát với nhạc thánh ca. Phong cách âm nhạc này gọi là organium và là hình thức âm nhạc phức điệu sớm nhất.

Tới cuối thế kỷ 12, người nghệ sĩ phát triển organium bằng cách thêm ba hoặc bốn bè giọng hát, tạo thanh những bài nhạc dài. Trong giai đoạn này các nhạc sĩ đã phát minh ra những ký hiệu âm nhạc tỉ mỉ với khuông nhạc 4-5 dòng kẻ, ký hiệu nhịp. người có công đâu trong những phát minh này là tu sĩ Ý dòng Benedictine Guido d’Arezzo.

Âm nhạc thời kỳ này đã biết sử dụng các nhạc cụ đàn organ, đàn dây như lyre, psaltery và fiddle thời trung cổ, hoặc đàn viele. hay nhạc cụ gõ như trống nhỏ và chuông.

Thời kỳ Phục hưng (1400 – 1600)

Phong cách âm nhạc được yêu thích thời kỳ này là những bản nhạc êm đềm và lãng mạn. Sau đó các nhà soạn nhạc mà đứng đầu là John Dunstable đã hướng đến sự đẩy mạnh âm nhạc đơn giản, thanh nhã.

Những nhà soạn nhạc thời Phục hưng viết nhạc đối âm bằng kỹ thuật mô phỏng khoảng cách trong một hay nhiều bè giọng có cùng giai điệu từ cuối thế kỷ 14. Hai giọng bè song song gần như cùng lúc, trong đó một giọng sẽ bắt chước theo một giọng khác trong một khoảng thời gian vừa phải hợp lý được gọi là một canon (luân khúc).

Những cặp bè giọng chuyển dịch trong một canon suốt cả tác phẩm hay một phần tác phẩm là đặc trưng của âm nhạc thời Phục Hưng.

Từ cuối thế kỷ 15 nhiều nhà soạn nhạc người Hà lan bắt đầu gây được tầm ảnh hưởng. Người hà Lan ưa thích kiểu âm thanh đồng nhất hơn, đối âm với mọi giọng bè, mỗi bè giọng có màu sắc riêng (một giọng solo được hai nhạc cụ solo khác đệm và trong đó một giọng sẽ trội hơn các giọng khác.

Một số nhà soạn nhạc Hà Lan đi đầu trong âm nhạc giai đoạn này là Jacob Obrecht, Johannes Okeghem, Josquin Desprez và Orlando di Lasso. Bên cạnh đó còn có nhạc sĩ người Ý Giovanni da Palestrina là đại diện cho dòng âm nhạc phức điệu hợp xướng ngang bằng trở thành tiêu chuẩn chính của âm nhạc Phục Hưng.

Thời kỳ Baroque (1600 – 1700)

Khi tính phức điệu của âm nhạc Phục Hưng vẫn còn thịnh hành thì nhiều người ý đã có ý tưởng về công cuộc thay đổi âm giọng và cấu trúc của âm nhạc.

Cuối thế kỷ 16, lần đầu tiên thể loại opera ra mắt và được biểu diễn tại ở Florence bởi nhà soạn nhạc người Ý Claudio Monteverdi.

Thế kỷ 17, khí nhạc ngày càng nổi bật hơn. Một vài khái niệm cơ bản về cấu trúc âm nhạc đã bị biến đổi, đặc biệt là ở Ý. Cụ thể, các nhà soạn nhạc chỉ tập trung vào các phần của soprano hay bass và lấp đầy những khoảng trống những hợp âm thay vì viết những bản nhạc mà trong đó tất cả các giọng từ soprano tới bass tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động âm nhạc.

Các thuật ngữ basso continuo và figured bass liên quan đến bè trầm và việc lấp đầy âm được sử dụng trong tất cả các thể loại âm nhạc, đặc biệt là các bài hát solo.

Cuối thế kỷ 17, khái niệm “khóa nhạc” thống trị nền âm nhạc và tạo ra trào lưu ngầm. Những nhà soạn nhạc nổi tiếng thời kỳ thế kỷ 17 –  thế kỷ 18 là các nhạc sĩ người Ý Alessandro Scarlatti, Domenico Scarlatti, các nhạc sĩ người Đức Heinrich Schutz, Dietrich Buxtehude, nhạc sĩ người Pháp Jean Philippe Rameau.

Thời kỳ cổ điển (1730 – 1820)

Các nhạc sĩ trẻ của thời kỳ này cho rằng đối âm của thời kỳ Baroque quá cứng nhắc khiến âm nhạc mất đi sự tự nhiên. Họ cần điều gì đó phóng khoáng hơn, cảm xúc hơn.

Ở Pháp, giới tinh hoa Pháp đại diện là nhà soạn nhạc người Pháp François Couperin sáng tạo ra phong cách mới gọi là rococo hay style galant (có nghĩa là “phong cách nhã nhặn”).

Phong cách này nhấn mạnh sự hòa hợp của giai điệu cùng với phần đệm âm thanh.

Những dòng nhạc không đứt quãng như thời Fugue thời Baroque được thay thế bằng những đoản khúc riêng biệt, giống như nhạc khiêu vũ. Đàn Harpsichord (clavico) trở thành  loại nhạc cụ phổ biến nhất giai đoạn này.

Người Đức tiếp tục ý tưởng và áp dụng viết một sinfonia khí nhạc độc lập một cách khéo léo. Cũng tại nước Đức chứng kiến sự khác biệt mới giữa phương tiện truyền đạt của âm nhạc thính phòng (chamber music), tức là mỗi nhạc cụ sẽ chơi phần của mình.

Các nhà soạn nhạc thính phòng giai đoạn này bắt đầu phân biệt string quartet (tứ tấu đàn dây), string trio (tam tấu đàn dây) và keyboard sonata (sonata đàn phím) với phần đệm của violin. Với các thể loại cho dàn nhạc, các nhà soạn nhạc không chỉ viết các symphony mà còn cả các concerto cho nhạc cụ solo cùng dàn nhạc.

Thể loại opera thế kỷ 18 cũng có nhiều thay đổi. Ở nước Ý, opera trở thành một loạt aria để người hát phô diễn giọng hát của mình. Một số nhà soạn nhạc châu Âu coi interlude và accompaniment khí nhạc như một yếu tố quan trọng…

Opera thời kỳ Cổ điển được coi là đạt tới đỉnh cao trong các tác phẩm sân khấu của Mozart. Ở đó, mọi khía cạnh của thanh nhạc lẫn khí nhạc đều góp phần vào sự phát triển của cốt truyện và sự mô tả tính cách nhân vật.

Thời kỳ Lãng mạn (1800 – 1910)

Đây là thời kỳ thăng hoa rực rỡ của thể loại opera thính phòng khi mà các tác phẩm của Haydn, Mozart, Beethoven chiếm lĩnh toàn bộ châu Âu. Thời gian này trường phái thẩm mỹ Lãng mạn đang lên cao ở Đức và Trung Âu. Các nhà soạn nhạc thời kỳ này thường lấy cảm hứng từ văn học, hội họa hay… dẫn đến sự ra đời của thể loại thơ giao hưởng.

âm nhạc cổ điển châu âu

Chính các bài thơ giao hưởng trong giai đoạn này lại là cơ sở đề hình thành nên thứ âm nhạc khắc họa hình ảnh và tâm trạng của lời ca. Người Đức gọi những bài hát nghệ thuật của họ là lied (số nhiều là lieder). trong thế kỷ 19 đã có hàng trăm lieder được viết. Những nhà soạn nhạc của thể loại này là Johannes Brahms, Franz Schubert, Robert Schumann, Hugo Wolff và Richard Strauss.

Thế kỷ 19, opera lên ngôi. Những nhà soạn nhạc Gasparo Spontini và Giacomo Mayerbeer ở Pháp sáng tạo ra thể loại grand opera. Trong khi đó, Jacques Offenbach phát triến thể loại comic-opera.

Còn tại Ý, phong cách opera truyền thống bel canto từ thế kỷ 18 vẫn được tiếp tục. Tại Đức, Richard Wagner sáng tạo ra một phong cách opera mới mang tính kịch và triết học cao gọi nhạc kịch (drama music). Wagner hướng tới xây dựng những đoạn nhạc ngắn của giai điệu và hòa thanh, gọi là leitmotifs (motif chủ đạo).

Những nhạc sĩ để lại dấu ấn trong thế kỷ 19 là Schubert, Schumann, Brahms, nhạc sĩ người Đức Felix Mendelssohn, Nhạc sĩ người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky,  nhạc sĩ người Áo Anton Bruckner, nhạc sĩ Ba Lan Frederic Chopin với thể loại âm nhạc không tiêu đề rất phóng khoáng.

Cuối thế kỷ 19, phong cách âm nhạc Lãng mạn có thay đổi chút ít bởi sự phát triển của hợp âm.

Thời kỳ Hiện đại (1890 – 1975)

Đầu thế kỷ 20, khoa học công nghệ phát triển khiến giới nhạc sĩ và người hoạt động nghệ thuật cũng phải thay đổi. Nhóm nhạc sĩ ở Vienna đứng đầu là Arnold Schoenberg cho rằng nên từ bỏ tính điệu trong âm nhạc. Phản ứng với đề xuất này, nhạc sĩ Rachmaninov vẫn trung thành với chủ nghĩa lãng mạn tới tận năm 1940 trong khi những người khác như Sibelius thì ngừng sáng tác.

Nhiều nhà soạn nhạc khác lấy cảm hứng từ âm nhạc dân gian. Tuy nhiên, yếu tố ảnh hưởng nhất tới âm nhạc thời kỳ này chính là đời sống chính trị  – xã hội châu âu. Ví dụ, George Gershwin hay Duke Ellington sau đó đã viết ra một thứ âm nhạc sang trọng để biểu diễn trong phòng hòa nhạc. Những nhạc sĩ tài hoa của châu Âu như Stravinsky và Ravel lại mang cả jazz vào âm nhạc của mình.

Các đề tài bạo lực như chiến tranh Thế giới thứ 2 hay các vụ thảm sát trở thành những đề tài gai góc của các nhà soạn nhạc châu Âu bấy giờ. Có thể kể ra Pierre Boulez, John Cage, Gershwin…

Đặc điểm của âm nhạc cổ điển châu Âu

Trải qua thời gian dài hình thành, phát triển, các nhà nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm chính của dòng nhạc cổ điển châu Âu.

Chất nghệ thuật

chất nghệ thuật

Bản thân âm nhạc đã là một môn nghệ thuật mà âm nhạc cổ điển là nghệ thuật âm nhạc phát triển sớm ở châu Âu. Từ cổ chí kim, âm nhạc là nơi nhạc sĩ gửi gắm tâm hồn, tình cảm trong từng lời ca, giai điệu.

Chất văn học

Có cả một giai đoạn, các nhà soạn nhạc châu Âu lấy cảm hứng sáng tác từ chính văn học, rồi lại từ âm nhạc chuyển thành một thể loại văn học là thơ giao hưởng. Âm nhạc cổ điển được ghi lại bằng các ký hiệu do đó mỗi bản nhạc được lưu lại đều là một tác phẩm văn học.

Chất kỹ nghệ

Người nhạc sĩ không thể viết nhạc mà không có kiến thức về nguyên tắc âm, khí… Âm nhạc cổ điển lại càng đòi hỏi sự hiểu biết kiến thức sâu rộng, uyên thâm hơn.

Tính phát triển và xã hội

Từng thời kỳ từng chế độ, âm nhạc cổ điển lại lại phát triển lên một tầm cao mới cùng với thời đại. Các nhà soạn nhạc thay đổi âm nhạc của mình cùng với sự phát triển xã hội. Sự phát triển tịnh tiến của âm nhạc cổ điển thể hiện từ cách sáng tạo ngôn ngữ và giai điệu, cho tới việc chuyển tài các vấn đề thời cuộc vào bản nhạc.

Âm nhạc cổ điển ở Việt Nam

Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng công chúng Việt Nam đã tiếp cận với âm nhạc cổ điển từ cả trước khi hình thành nền tân nhạc. Có thể, sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp đã đem âm nhạc cổ điển tới với người dân Việt Nam.

nhạc cổ điển việt nam

Từ năm 1928 ở Hà Nội và Sài Gòn đã có những buổi Concert Symphonique. Giai đoạn này, nhiều nghệ sĩ nước ngoài đến biểu diễn các tác phẩm của Mozart, Beethoven, Chopin, Gounod bằng violon và piano.

SAu thời gian dài chỉ biết tiếp nhận, giới trí thức Việt cũng hướng đến một cách tiếp cận khác là chủ động tìm hiểu và học hỏi về âm nhạc cổ điển. Những năm 1954 – 1956 là thời kỳ chuẩn bị lực lượng cho âm nhạc cổ điển Việt Nam một cách thực sự bài bản.

Tạ Bôn, Lã Hữu Toản (violon), Hoàng Đạm (sáng tác), Trần Ngọc Xương, Phạm Đình Sáu, Lê Bích (flute), Hoàng Vân là những lứa nghệ Việt đầu tiên được xuất ngoại sang Trung Quốc học nhạc vào năm 1954.

Tới năm 1956 có Trọng Bằng, Quang Hải, Trần Quý (chỉ huy) trong lứa đầu tiên được du học Liên Xô.

Năm 1959, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam với 114 nhạc công đã được đầu tư ra nước ngoài học tập. Đến năm 1963 những nghệ sĩ này trở về và nước nhà có Nhà hát Giao hưởng – Hợp xướng – Vũ kịch Việt Nam. Nhà hát đã dàn dựng và biểu diễn các tác phẩm lớn của W.A.Mozart, L.v.Beethoven, P.I.Tchaikovsky… và gây được tiếng vang lớn.

Thời kỳ vàng son của nhạc cổ điển Việt Nam là những năm 60 của thế kỷ 20. Nhiều tài năng âm nhạc cổ điển được sản sinh và tạo điều kiện phát triển. Hàng loạt tác phẩm giao hưởng của Việt Nam ra đời và đến được với công chúng. Có thể kể ra những tác phẩm: “Giải phóng Điện Biên” (Hoàng Đạm), “Lửa cách mạng” (Trần Ngọc Xương), “Quê hương” (Hoàng Việt)… Bên cạnh đó là một số nhạc kịch như “Cô Sao” (Đỗ Nhuận), “Bên bờ Krông Pa” (Nhật Lai)…

Thế nhưng đó chỉ là quá khứ. Phải đến những thập niên 2000, âm nhạc cổ điển Việt mới lại được nói đến bởi những cái tên Đặng Thái Sơn, Tôn Nữ Nguyệt Minh… Họ là những lứa tài năng đầu tiên của âm nhạc cổ điển Việt Nam hiện đại, được đầu tư bài bản và đạt thành tích trên trường quốc tế.

Ngoài ra còn nhiều tài năng hứa hẹn khác đã và đang du học và làm việc tại nước ngoài như Hoàng Linh Chi (Tây Ban Nha), Văn Hùng Cường, Nguyễn Hữu Nguyên, Nguyễn Hữu Khôi Nam (Pháp), Trần Hữu Quốc (Hàn Quốc), Quốc Trường (Mỹ), Bích Trà (Anh)…

Trong khi đó, công cuộc tìm kiếm và đào tạo tài năng cho âm nhạc cổ điển Việt hiện vô cùng khó khăn. Tại Nhạc viện TP.HCM, các ngành âm nhạc giao hưởng như viola, trombone, basson, contrebasse… nhiều năm thậm chí không có người học. Do đó, dàn nhạc của Nhà hát nhạc vũ kịch không có thể tuyển người.

Những năm qua, Nhạc viện Tp.HCM đang triển khai nhiều chương trình biểu diễn nhằm đem nhạc giao hưởng tới với các trường học bậc tiểu học và trung học cơ sở, nhằm lan tỏa tình yêu âm nhạc cổ điển và phát hiện tài năng mới. Âm nhạc nước nhà vẫn chưa tìm ra được thế hệ tài năng kế cận Đặng Thái Sơn hay Tôn Nữ Nguyệt Minh…

Nâng cao dân trí âm nhạc cho công chúng Việt là biện pháp duy nhất để duy trì và phát triển âm nhạc cổ điển Việt.

 

Digital marketing là gì? Công cụ digital marketing nào hiệu quả nhất ở Việt Nam?

Digital marketing là gì? Công cụ digital marketing nào hiệu quả nhất ở Việt Nam?

Bài viết này sẽ cung cấp đầy đủ kiến thức digital marketing là gì? Những công cụ digital marketing hiệu quả nhất tại Việt Nam.

Digital marketing là gì?

Sự phát triển của công nghệ hiện đại kéo theo nhiều cách thức và phương tiện truyền thông hiệu quả, một trong số đó là digital marketing. Vậy digital marketing là gì?

digital marketing là gì

Digital marketing dịch sang tiếng Việt có nghĩa là tiếp thị kỹ thuật số hay gọi tắt là tiếp thị số. Đây là hình thức sử dụng các phương tiện kỹ thuật số trên nền tảng internet nhằm quảng bá/giới thiệu sản phẩm tới khách hàng nhằm thay đổi nhận thức và kích cầu người tiêu dùng.

Sự phát triển của internet và công nghệ số khiến đời sống của người dân bị số hóa. Cụ thể, các trang mạng xã hội phổ biến đã thay đổi cách tìm kiếm và tiếp nhận thông tin của người tiêu dùng. Họ sử dụng internet và mạng xã hội nhiều hơn, mua sắm qua mạng nhiều hơn… Do đó, ngành tiếp thị/quảng cáo cũng cần thay đổi cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng.

Digital marketing được chia làm hai mảng chính:

Internet marketing (tiếp thị qua internet): Web, SEM (Search Engine Marketing – tiếp thị qua công cụ tìm kiếm bao gồm cả SEO và quảng cáo PPC = Pay per Click)

Các kênh tiếp thị số không dùng internet: Truyền hình vô tuyến, radio SMS, bảng quảng cáo điện tử…

Các công cụ digital marketing phổ biến tại Việt Nam hiện nay

Việt Nam đang được đánh giá là có tốc độ phát triển mạnh mẽ trên thị trường tiếp thị số. Tìm hiểu những công cụ digital marketing phổ biến tại Việt Nam.

Social media marketing

social marketing

Tiếp thị qua mạng xã hội được coi là công cụ digital marketing phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay. Trong đó, mạng xã hội facebook được người dùng Việt Nam ưa chuộng nhất.

Thống kê mới nhất đến tháng 4/2018, Việt Nam có 58 triệu người dùng facebook trong khi dân số cả nước là khoảng 92 triệu người. Độ tuổi người dùng facebook tại Việt Nam phổ biến từ 18 – 30 tuổi. Do đó, Facebook Marketing rất thịnh hành tại Việt Nam. Facebook trở thành thiên đường của quảng cáo và bán hàng.

Nắm bắt được xu hướng này, doanh nghiệp thành lập các trang fanpage hay sử dụng hình thức hiển thị quảng cáo để thu hút bạn đọc và tăng tương tác bằng cách nhấn like, thả tim hay comment hỏi thông tin về sản phẩm.

Quan trọng là doanh nghiệp xác định đúng đối tượng công chúng mục tiêu và xây dựng nội dung fanpage thật hay, thật hấp dẫn. Những phản hồi của bạn đọc có thể đong đếm mức độ thành công của nội dung quảng bá.

Một hình thức Facebook Marketing khác rất phổ biến hiện nay là mời các hot facebooker review/PR sản phẩm. Đây thường là những người nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực, có lượng người follow lớn và có tiếng nói nhất định trong cộng đồng. Do vậy, những bình luận/review của những người này thường nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng mạng.

Ngoài ra doanh nghiệp cũng sử dụng những hình thức khác như: Blog marketing, Forum Seeding.

SEO (Search Engine Optimization)

SEO nghĩa tiếng Việt có nghĩa là tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Đây là phương thức tối ưu nội dung chữ và định dạng website dựa trên những từ khóa hot nhất để phục vụ người dùng tìm kiếm thông tin.

Người dùng Việt có thói quen tìm kiếm thông tin trên google. Do vậy, hình thức SEO được cho là khá hiệu quả. Khi tìm kiếm trên google, bạn thường sẽ gõ những từ khóa quan trọng. Khi đó kết quả hiện ra là một loạt các website có chứa từ khóa. Các website phải cạnh tranh với nhau trong cuộc đua SEO để đưa trang web của mình lên top cao nhất trên google và giữ top lâu nhất.

Quảng cáo Google (Google Adwords)

Google Adwords là hình thức doanh nghiệp trả tiền để quảng cáo của mình được hiển thị (CPM) và được người dùng truy cập (CPC) ở những vị trí ưu tiên trên kết quả tìm kiếm từ khóa của google.

Hình thức này có nhiều ưu điểm: Cho phép hiển thị thông điệp quảng cáo theo đúng từ khóa lựa chọn, tăng khả năng tối ưu hóa và trúng nội dung người đọc cần tìm kiếm.

Quảng cáo được quản lý và hiển thị theo đúng khu vực và quốc gia với đối tượng khách hàng một doanh nghiệp. Ví dụ, một sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng Pháp sẽ không hiển thị với người dùng Việt Nam.

Đáng chú ý, doanh nghiệp được lựa chọn hiển thị quảng cáo của mình trong thời gian nhất định. Doanh nghiệp tự do lựa chọn quảng cáo phù hợp theo ngân sách, từng ngày, từng giai đoạn…

Email Marketing

email marketing

Email marketing đang bị cho là kém hiệu quả vì một số hạn chế nhất định. Trước hết, email thường được sử dụng làm công cụ kết nối trong công việc, người dùng không thường xuyên kiểm tra thư điện tử như lướt facebook hay đọc tin nhắn SMS.

Quảng cáo bằng nội dung qua email hạn chế đối tượng người dùng trên 25 tuổi, dân văn phòng, công viên chức… Hình thức này không thực sự hiệu quả với đối tượng cộng chúng trẻ tuổi từ 18 – 22.

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp biết cách làm nội dung email marketing phù hợp với đối tượng người dùng thì phương thức này vẫn đem lại hiệu quả nhất định.

Quảng cáo Banner

Sử dụng bảng quảng cáo điện tử phổ biến tại Việt Nam từ nhiều năm trước. Điểm mạnh của banner là nội dung có điểm nhấn, thu hút người tiêu dùng một cách trực tiếp. Tuy nhiên, banner chỉ thực sự hiệu quả khi gây được sự chú ý cực mạnh và tạo được dấu ấn thương hiệu.

Nếu sử dụng hình thức đặt banner quảng cáo thực tế ở ngoài trời hoặc trong nhà sẽ có hạn chế là tốn kém chi phí. Doanh nghiệp phải đầu tư chi phí làm nội dung, chi phí thi công xây dựng lắp đặt biển bảng trong khi hiệu quả của nó khó có thể đo đếm bằng các con số.

Trước đây, thị trường banner quảng cáo trực tuyến Việt Nam vẫn tính giá theo hình thức Cost per Duration (CPD) tức là trả chi phí cho banner quảng cáo của mình theo thời gian đặt trên website (ngày, tuần, tháng, năm). Còn hiện tại chi phí quảng cáo banner online được trả theo hình thức CPM (Cost per Milles) hay CPC (Cost Per Click).

Hy vọng những thông tin này cung cấp kiến thức giúp bạn hiểu rõ digital marketing là gì và giúp bạn trở thành một digital marketer xuất sắc.

avolution.com.vn

 

Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Bạn đam mê âm nhạc và muốn trở thành một nhà viết nhạc. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu tới các bạn kiến thức hợp âm là gì? Lý thuyết cơ bản về hợp âm trong âm nhạc.

Hợp âm là gì?

Định nghĩa hợp âm là gì?

hợp âm cơ bản

Hợp âm là một chuỗi âm thanh được tạo thành từ nhiều nốt nhạc vang lên cùng lúc theo một trật tự nhất định, bởi nếu không tuân theo quy luật thì mới chỉ là chồng âm. Hợp âm được xây dựng từ hai hay nhiều quãng 3.

Trong hợp âm, nốt nhạc dùng làm nền được gọi là nốt chủ âm. Các nốt khác được gọi theo tên của quãng mà chúng tạo thành với nốt chủ âm.

Trước hết cần tìm hiểu khái niệm về Gam. Mỗi gam có một hệ thống hợp âm của riêng nó gồm 7 hợp âm tức một gam gồm có 7 nốt nhạc.

Ví dụ Gam Son trưởng có 7 nốt Đồ Rê Mi Fa Sol La Si Đô. Khi một bài hát sử dụng gam Son trưởng thì chỉ sử dụng 7 nốt nhạc này ở những cao độ khác nhau (Son, Sòn, Són,…  trừ trường hợp thăng giáng bất thường).

Ký hiệu và cách đọc tên hợp âm

Âm nhạc quy ước có 3 hợp âm chính là hợp âm G, C, D. Để biết 1 gam có bao nhiêu hợp âm lấy 7 nốt nhạc và tạo thành tất cả những hợp-âm-ba

Trong lý thuyết âm nhạc quy ước, dùng chữ cái để ký hiệu các loại hợp âm trưởng.

Cụ thể, C là Do trưởng, D là Re trưởng, E là Mi trưởng, F là Fa trưởng, G là Sol trưởng, A là La trưởng, B là Si trưởng

Hợp âm thứ được ký hiệu bằng các chữ cái ký hiệu hợp âm trưởng + chữ cái “m” phía sau. Cm là Do thứ, Dm là Re thứ, Em là Mi thứ,Fm là Fa thứ, Gm là Sol thứ, Am là La thứ, Bm là Si thứ.

Hợp âm bảy được ký hiệu bằng chữ cái hợp âm trưởng và số 7. C7 là Do bảy, D7 là Re bảy, E7 là Mi bảy ,F7 là Fa bảy, G7 là Sol bảy, A7 là La bảy, B7 là Si bảy.

Từ những ký hiệu và cách viết trên ta có thể kết hợp chúng lại và gọi tên hợp âm:

Ví dụ: Bbm đọc là Si giáng thứ

Bb đọc là Si giáng trưởng

C#m đọc là Đô thăng thứ

Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc trên thế giới, hợp âm được dùng nhiều trong nhạc Tây Phi hiện đại và nhạc cổ điển châu Âu. Một số vùng khác không có khái niệm hợp âm trong lý thuyết âm nhạc như thể loại âm nhạc truyền thống của các quốc gia khu vực Đông Nam Á.

Cấu tạo của hợp âm

cấu tạo hợp âm

Tạo hợp âm từ 2 hay nhiều quãng 3 chồng lên nhau

Hợp âm trưởng

Tạo hợp âm trưởng theo cách này gồm có nốt gốc + nốt ở quãng 3 trưởng + nốt ở quãng 5 (quãng 5 đúng).

Nếu tính theo cung, hợp âm trưởng = nốt gốc + nốt gốc thêm 2 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung.

Ví dụ C trưởng: các nốt sẽ là C E G

Hợp âm thứ

Theo cách tạo chồng âm, hợp âm thứ = nốt gốc + nốt ở quãng 3 thứ + nốt ở quãng 5 (quãng 5 đúng).

Tính theo cung thì hợp âm thứ = nốt gốc + nốt gốc thêm 1,5 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung.

Ví dụ C thứ được ký hiệu Cm gồm các nốt sẽ là C Eb G

Tạo hợp âm từ các bậc 1, 3 và 5 của thang âm

Hợp âm giảm hay Dim

Cấu tạo hợp âm giảm hay Dim chính nốt gốc cộng với nốt ở quãng 3 thứ và nốt quãng 5 giảm. Hợp âm dim được tạo ra khi từ hợp âm thứ đứng đầu dịch lên 1 cung.

Tính theo cung hợp âm giảm hay dim được tạo nên từ nốt gốc cộng với nốt gốc thêm 1,5 cung và nốt gốc thêm 3 cung

Ví dụ C giảm ký hiệu là Cdim thì các nốt sẽ là: C Eb Gb

Các hợp âm tăng hay AUG

Hợp âm tăng hay AUG có cấu tạo từ nốt gốc + nốt ở quãng 3 trưởng + nốt ở quãng 5 tăng

Nếu tính theo cung hợp âm này gồm nốt gốc + nốt gốc thêm 2 cung và nốt gốc thêm 4 cung

Ví dụ C tăng ký hiệu là Caug thì các nốt sẽ là: C E G#

Các hợp âm treo

Định nghĩa: Hợp âm treo (hay còn được gọi là sus) chính là hợp âm bị thay đổi nốt ở quãng 3 thành nốt ở quãng 4 hoặc quãng 2.

Khi hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 2 có ký hiệu sus2 thì được cấu tạo bởi nốt gốc + nốt ở quãng quãng 2 trưởng + nốt ở quãng 5 đúng

Tính theo cung hợp âm treo gồm: nốt gốc + nốt gốc thêm 1 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung

Ví dụ hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 2 ký hiệu là Csus2 gồm các nốt là C D G

Khi hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 4 có ký hiệu sus4 thì cấu tạo gồm: nốt gốc + nốt ở quãng 4 đúng + nốt ở quãng 5 đúng

Tính theo cung hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 4 cấu tạo gồm: Nốt gốc + nốt gốc thêm 2,5 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung

Ví dụ Csus4 gồm các nốt là C F G

Các bộ hợp âm cơ bản

Trong 1 bộ hợp âm cơ bản ta thường sẽ có 7 hợp âm.

& hợp âm này gồm: 3 hợp âm thứ + 3 hợp âm trưởng + 1 hợp âm dim .

Quy tắc hợp âm Song Song

Quy tắc hợp âm song song tức là trong bộ hợp âm có 1 hợp âm thứ song song với 1 hợp âm trưởng. Cách tính hợp âm này là từ hợp âm thứ có sẵn tiến lên 1,5 cung ta sẽ có hợp âm trưởng song song với hợp âm thứ đó.

Quy ước cách tính hợp âm song song:

Hợp âm thứ hoặc trưởng đứng đầu sẽ là bậc 1 và 2 hợp âm còn lại sẽ là bậc 4 và 5 của nó

Bậc 1 >> bậc 4 cách nhau 2,5 cung

Bậc 4 >> bậc 5 cách nhau 1 cung.

Khi ta đã biết 2 hợp âm thứ và trưởng song song đứng đầu, quy tắc này cho phép ta tính được 2 hợp âm thứ hoặc hợp âm trưởng còn lại.

VD: Tính bộ hợp âm của Am // C. Dựa vào hợp âm thứ đứng đầu là Am, tính 2 hợp âm thứ còn lại.

Cu thể, Theo quy ước nốt nhạc trong GAM, tính A là bậc 1 do đó bậc 4 và 5 tiếp theo là D và E.

Đến đây tiếp tục xét A bậc 1 và D bậc 4 đã thoả mãn yêu cầu cách nhau 2,5 cung chưa.

Nếu bậc 1 lớn hơn bậc 4 và mới cách nhau 2 cung thì bậc 4 phải thăng lên nửa cung

Nếu bậc 1 lớn hơn bậc 4 đủ 2,5 cung thì giữ nguyên bậc 4

Nếu bậc 1 lớn hơn bậc 4 cách nhau là 3 cung thì giáng bậc 4 xuống nửa cung

Như vậy ở đây ta thấy hợp âm A cách hợp âm D (hợp âm A bậc 1 lớn hơn hợp âm D bậc 4)) đủ 2, 5 cung.

Mặt khác, hợp âm D (bậc 4) lớn hơn hợp âm E (bậc 5) vừa đủ 1 cung. Do đó hợp âm D và E không cần thăng (#).

Trên đây là tổng hợp những kiến thức hợp âm là gì. Lý thuyết cơ bản về hợp âm. Hy vọng bài viết hữu ích với những ai có nhu cầu tìm hiểu kiến thức âm nhạc.

Tin liên quan

>>Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

 

 

avolution.com.vn

Một số loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất trên thế giới

Một số loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất trên thế giới

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam là sáng tạo hết sức đặc sắc trong đời sống văn hóa của cha ông ta. Tìm hiểu về những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam được đánh giá là độc đáo nhất trên thế giới. 

Khái quát về nhạc cụ dân tộc Việt Nam

Tin liên quan

>>Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

>>Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam là những tìm tòi và phát minh ra những đồ vật có khả năng phát ra âm thanh. Đây là có thể là những đồ vật, vật thể có sẵn trong tự nhiên và gần gũi với đời sống con người như hòn đá, ống tre, ống nứa…

nhạc cụ dân tộc việt nam

Những loại nhạc cụ dân tộc cho ra những thứ âm thanh độc đáo, không thể bắt chước. Dù cho nhạc cụ hiện đại ngày càng phổ biến và phát triển nhưng nhạc cụ dân tộc vẫn có vai trò quan trong trong văn hóa người Việt. Nó đại diện cho văn minh của từng cộng đồng người, từng địa phương.

Ở Việt Nam có hàng trăm nhạc cụ dân tộc, trong đó có hàng chục loại nhạc cụ vô cùng độc đáo, đặc sắc và được đánh giá cao về chuyên môn.

Những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất

Sáo trúc

sáo trúc

Cha ông ta từ xa xưa đã biết cách biến những thân cây trúc hoặc tre vừa dài vừa thô thành một loại nhạc cụ phát ra thứ âm thanh cao vút. Chỉ những thân cây tre hoặc trúc nhỏ với đường kính khoảng 1.5cm mới có thể làm được sáo. Cây sáo thường dài 30cm, trên thân ống được khoét một lỗ thổi có lưỡi gà, và có 6 hoặc 10 lỗ bấm.

Hình ảnh cây sáo thường gợi lên cuộc sống nông thôn yên bình, những đứa trẻ chăn trâu thổi sáo ngoài cánh đồng…

Sáo trúc có thể độc tấu hoặc hòa tấu cùng dàn nhạc cổ truyền hay dàn nhạc giao hưởng thính phòng.

Đàn bầu

đàn bầu

Đàn bầu hay còn gọi độc huyền cầm là một loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam hết sức độc đáo. Độc huyền cầm nghĩa là đàn chỉ có một dây. chạy dài theo thân đàn. Trước đây dây đàn được làm bằng tơ tằm, cần đàn được làm bằng tre. Ngày nay, dây đàn được thay bằng sắt, cần đàn được làm bằng sừng trâu.

Đàn bầu có hai loại làm bằng thân tre hoặc thân gỗ. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc gỗ tiện hình nậm bầu. Còn trục lên dây bằng tre hoặc gỗ. Que gẩy đàn được gót bằng giang hoặc song, có đầu nhọn và được làm bông lên.

Âm thanh của đàn bầu vừa trầm ấm vừa thê lương, vừa sâu lắng vừa ai oán đi vào lòng người.

Đàn nhị

đàn nhị

Đúng như tên gọi, đàn nhị có nghĩa là đàn có hai dây, có tên gọi khác là đàn cò. Một cây đàn nhị có cấu tạo gồm năm phần: cần đàn, thùng đàn, thủ đàn, ngựa đàn và dây đàn.

Đàn nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng 8, âm thanh trong trẻo, cao vút thường được ví như những tiếng hờn nỉ non.

Đây là loại đàn giữ vai trò chủ đạo trong hát xẩm. Nhạc cụ này cũng không thể thiếu trong dàn nhã nhạc, phường bát âm, biểu diễn chầu văn…

Ngoài người Kinh, một số tộc người khác cũng sử dụng đàn nhị như người Tày, người Nùng, Mường, Dao, Giáy…

Phách

phách

Phách là thể loại nhạc cụ bộ gõ, phổ biến trong nhiều thể loại ca múa nhạc Việt Nam. Cấu tạo của phách gồm có bàn phách, tay ba và hai lá phách. Bàn phách là miếng tre dài khoảng 30 cm, bản rộng khoảng 4 cm. Hai lá phách là dùi gõ kép. Người chơi cầm 2 lá phách chập vào nhau để gõ vào mặt bàn phách. Tay ba là dùi gõ thường được làm bằng gỗ mít, dài như 2 lá phách, thường được người chơi cầm bằng tay trái.

Trong mỗi loại hình biểu diễn, phách lại có tên gọi khác nhau. Trong diễn tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian thì chỉ gọi là phách. Trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang, trong hát xẩm gọi phách là cặp kè; trong ca Huế phách gọi là sênh (hoặc sênh tiền)…

Cồng chiêng

cồng chiêng

Cồng chiêng là nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng nhiều dân tộc ở các quốc gia Đông Nam Á. Tại Việt Nam, cồng chiêng có mặt trong đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và người Mường ở phía Bắc.

Cồng chiêng thuộc bộ gõ, làm bằng chất liệu đồng, thau, hình dạng gần giống như chiếc nón quai thao. Cồng chiêng có kích thước khá đa dạng từ 20 – 60 cm.

Cồng chiêng là tên gọi chung nhưng cồng và chiêng có nhiều điểm khác nhau. Cồng có núm, còn chiêng không có núm.

Cồng chiêng được sử dụng trong nhiều dịp như mừng vụ mùa bội thu, mừng già làng trưởng bản hay các dịp lễ hội trong năm…

Đàn đá

Đây được coi là loại nhạc cụ thuộc bộ gõ lâu đời nhất của Việt Nam. Từ xa xưa, cha ông ta đã chọn lọc chế tác những tảng đá thô sơ thành những tảng đá có thể phát ra âm thanh.

Bất kỳ tảng đá nào có kích thước và hình dạng khác nhau có khả năng phát ra âm thanh sẽ được gọt dũa và sử dụng.

Tảng đá dày và to cho âm thanh trầm, chắc, tảng đá nhỏ và mỏng cho tiếng nhẹ nhàng, âm cao.

Đàn đá phổ biến trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và người Khmer ở Nam Trung Bộ. Do đặc điểm dân cư gắn liền với núi rừng thiên nhiên, con người chế tạo ra loại đàn đá phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Đàn T’rưng

đàn t'rung

Đàn T’rưng cũng loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên. Cái tên “t’rưng” là xuất phát từ tiếng Gia Rai.

Loại đàn này làm bằng ống tre hoặc nứa có kích thước khác nhau. Các ống có đường kính 3-4 cm, dài từ 40- 70 cm. Mỗi ống giữ nguyên các đầu mấu để bịt một đầu ống, còn đầu kia được gọt vát một phần ống để tạo âm theo chuỗi hàng âm.

Phổ biến một cây đàn T’rưng hiện nay có khoảng 12 đến 16 ống xếp hàng ngang trên giá theo thứ tự từ lớn đến nhỏ từ dài đến ngắn.

Người ta chơi đàn T’rưng bằng cách dùng dùi gõ vào các ống. Các ống to nhỏ dài ngắn khác nhau sẽ cho ra những âm thanh cao thấp trầm bổng khác nhau. Ống tre to và dài cho ra âm thanh trầm, những ống nhỏ và ngắn cho ra những âm cao. Tiếng đàn t’rưng cho ta cảm giác những âm thanh chỉ có trong núi rằng tự nhiên như: tiếng suối róc rách, tiếng xào xạc của rừng tre nứa khi gió thổi, tiếng thác đổ…

avolution.com.vn – Âm Nhạc

Cổ phần hóa là gì? Công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Cổ phần hóa là gì? Công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Tìm hiểu rõ khái niệm cổ phần hóa là gì? Bản chất của cổ phần? Chi tiết công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.

Cổ phần hóa là gì?

Kể từ công cuộc Đổi mới đất nước năm 1986 đến nay, kinh tế nước nhà chuyển dần từ chế độ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường. Tư duy đổi mới kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải được cổ phần hóa. Vậy cổ phần hóa là gì?

cổ phần hóa là gì

Cổ phần hóa là cách gọi tắt của việc chuyển đổi doanh nghiệp doanh nhà nước thành công ty cổ phần.

Nói cách khác, cổ phần hóa là giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp đang giữ 100% số vốn nhà nước. Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Tại sao phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Giải quyết vấn đề của khu vực kinh tế quốc doanh

tại sao phải cổ phần hóa

Thực tế kinh tế Việt Nam kể từ khi chuyển hướng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn. Hình thức kinh tế nhà nước không còn phù hợp dẫn tới làm ăn thua lỗ, nhà nước phải liên tục bù lỗ.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ xác định chính xác chủ sở hữu của tư liệu sản xuất, tạo động lực cạnh tranh trong sản xuất.

Cổ phần hóa là kêu gọi và huy động nguồn nhân lực, tài chính và sức lao động trong nhân dân từ đó giảm bớt gánh nặng kinh tế cho nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước phần lớn chỉ ở quy mô nhỏ và vừa không đáp ứng được sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. Thống kê năm 1996, khối kinh tế quốc doanh có 33% doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn 1 tỷ đồng, 50% trong số đó có số vốn nhỏ hơn 500 triệu đồng; chỉ có 30% doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ đồng.

Cơ chế quản lý của doanh nghiệp nhà nước còn tương đối yếu kém, thủ tục hành chính rườm rà, dễ nảy sinh tiêu cực, không có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.

Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển tự do, năng động

Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cho phép doanh nghiệp phát huy tính sáng tạo, năng động trong sản xuất kinh doanh.

Doanh nghiệp không gặp phải những ràng buộc của nền kinh tế bao cấp, tiếp cận nhanh với sự phát triển khoa học kỹ thuật để hội nhập nền kinh tế thế giới.

Khi doanh nghiệp cổ phần hóa, tư nhân tự làm chủ tài của mình do đó lãnh đạo và nhân viên được gắn chặt trong một mối lợi ích và trách nhiệm, không còn thái độ ỷ lại, tạo động lực tích cực trong sản xuất kinh doanh.

Hạn chế trong công cuộc cổ phần hóa

bất cập của cổ phần hóa

Công cuộc cổ phần hóa dù mang lại nhiều lợi ích kinh tế đất nước nhưng cũng không tránh khỏi một số hạn chế, khuyết điểm.

Trước hết, trong quá trình kiểm kê tài sản chuẩn bị cho công cuộc cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp thực hiện không sát sao, dễ dẫn tới khai khống, bóp méo con số thống kê tài sản để tư lợi. Sai phạm trong kiểm tài sản công còn kéo theo sai phạm trong định giá tài sản doanh nghiệp.

Quá trình bán cổ phần cho cá nhân/pháp nhân cũng dễ phát sinh tiêu cực. Nhiều doanh nghiệp lợi dụng chính sách bán cổ phần ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên chức chưa đủ điều kiện về thời gian làm việc hoặc những người đã chuyển sang làm việc tại đơn vị khác.

Thậm chí còn xảy ra trường hợp công ty bán cổ phần cho người ngoài công ty theo giá sàn. Những hành vi này vi phạm nghiêm trọng các quy định về thực hiện chính sách đối với người lao động khi chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

Bên cạnh đó, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn một số hạn chế khác trong thu hồi vốn bán cổ phần hay chậm trễ trong việc tái sử dụng nguồn vốn để tái thiết lại doanh nghiệp…

Công cuộc cổ phần hóa tại Việt Nam

các giai đoạn cổ phần hóa tại việt nam

Công cuộc cổ phần hóa được được đề xuất và thử nghiệm từ những năm 1990 – 1991, đến năm 1992 thì chính thức đưa vào thực hiện. Công cuộc cổ phần hóa được đẩy mạnh nhất vào năm 1996 và đến năm 2010 thì được đánh giá là cơ bản hoàn thành.

Giai đoạn từ 1990 – 1996: Bước đầu thử nghiệm

Những năm đầu của thập kỷ 1990, hàng loạt doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, buộc nước ta phải tìm đến từ giúp đỡ của các thể chế tài chính toàn cầu như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADP)…

Thời điểm này, Đảng và Nhà nước nhận thấy sự bất cập của khối doanh nghiệp quốc doanh nên bắt đầu tiến hành thực hiện cải cách nền kinh tế theo đề xuất của các tổ chức quốc tế.

Thời gian đầu tiên, chủ trương cải cách, Chính phủ Việt Nam còn thực hiện một cách miễn cưỡng bằng cách không bán đứt cổ phần doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân mà chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần.

Nhà nước chia tài sản của doanh nghiệp thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp. Nhà nước giữ lại một phần cổ phần sở hữu, tùy thuộc vào quy mô doanh nghiệp đó.

Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về việc lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử nghiệm chuyển đổi thành công ty cổ phần. Kết quả là trong năm 1990-1991 có 2 doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa.

Từ đó đến tháng 4 năm 1996, cả nước có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa. Đối với các công ty này, Nhà nước chỉ cho phép tư nhân được mua tối đa 20 – 35% cổ phần, Nhà nước giữ lại từ 20-30% cổ phần.

Giai đoạn từ 1996 – 2001: Chính thức thực hiện

Với kinh nghiệm cổ phần hóa của những doanh nghiệp trên, năm 1996 Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn.

Ngày 7/5/ 1996 Chính phủ ban hành Nghị định 28/CP yêu cầu các bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đến năm 1997.

Theo tinh thần của Nghị định 28/CP, các bộ ngành xem xét chọn những doanh nghiệp mà Nhà nước không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn làm đối tượng cổ phần hóa.

Đến ngày 26 tháng 3 năm 1997, Nghị định số 25/CP của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương mở rộng quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử. Cụ thể, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống dựa trên cơ sở Nghị định số 28/CP.

Tổng kết đến cuối năm 1997 đã có 25 doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần.

Dù đã có khá nhiều doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần, thế nhưng phải đến ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ Việt Nam mới quyết định chính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa bằng Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Theo đó, đối với doanh nghiệp có cổ phần phát hành lần đầu được chuyển đổi (Nhà nước vẫn nắm quyền chi phối) thì, các cá nhân chỉ được mua tối đa 5% và pháp nhân không được phép mua quá 10%.

Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tối đa 10% và pháp nhân được phép mua tối đa 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu.

Các cá nhân và pháp nhân được phép mua không hạn chế cổ phần của các doanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu. Số tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng vào việc đào tạo lại lao động,phân bổ lại nguồn nhân lực và bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước khác.

Tổng kết kể từ Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đến hết năm 2001, cả nước có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

Giai đoạn từ 2001 – 2010: Đẩy mạnh và hoàn thiện

Sau thời gian dài thử nghiệm và ổn định, đến những năm 2001, trở đi, Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp.

Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết của Trung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngày 08/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Đến ngày 19/6/2002 Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới trong công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp của nước nhà.

Chính phủ mở rộng cổ phần hóa doanh nghiệp thêm nhiều hình thức khác. Cụ thể, Nhà nước cho phép bán toàn bộ hoặc một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nhà nước cho phép cổ phần hóa bằng hình thức giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.

Ngoài ra doanh nghiệp có thể thực hiện bán một phần/toàn bộ vốn nhà nước hiện kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.

Nhà nước chỉ giới hạn đối với cổ phần phát hành lần đầu. Theo đó, các nhà đầu tư trong nước được phép mua không hạn chế. Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30%.

Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP đánh dấu thêm một bước tiến mới trong công cuộc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

Theo đó đối tượng cổ phần hóa được mở rộng ra các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và cả chính tổng công ty nhà nước. Nếu Nhà nước không còn muốn chi phối thì các công ty này đều có thể trở thành đối tượng cổ phần hóa.

Nghị định này cũng đưa ra một quy định mới là việc bán cổ phần lần đầu. Đối với những công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng thì việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán.

Nếu doanh nghiệp có số vốn trên 1 tỷ đồng thì phải bán cổ phần lần đầu tại các trung tâm tài chính. Còn nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng thì thực hiện bán cổ phần lần đầu ngay tại công ty.

Việc bán đấu giá cổ phần lần đầu sẽ đẩy giá cổ phiếu của các công ty nhà nước lên cao, đem lại nguồn thu lớn cho nhà nước. Một số công ty đã thực hiện theo chủ trương này và thu lợi lớn như: Nhà máy thiết bị bưu điện, Công ty sữa Việt Nam, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh, Công ty điện lực Khánh Hòa…

Bên cạnh đó, việc bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ tạo động lực phát triển cổ phiếu trong nước. Bằng chứng là tính đến 31/10/2005, có tới 29 trên tổng số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.

Đến năm 2008, cả nước đã có trên 3.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ được cổ phần hóa. Dự trù đến năm 2010, khoảng 2.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn còn lại sẽ hoàn tất cổ phần hóa.

Cũng từ năm 2008, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, thể thao… và bước đầu giành được thành tựu khả quan. Đến năm 2010, công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đánh giá là cơ bản hoàn thành.

avolution.com.vn

BOT là gì? Hiện trạng thu phí đường bộ hiện nay có gì bất cập?

BOT là gì? Hiện trạng thu phí đường bộ hiện nay có gì bất cập?

Trong thời gian vừa qua, có rất nhiều vấn đề liên quan tới việc thu phí đường bộ nổi cộm lên. Trong số đó thì việc người dân phản đối sự xuất hiện trạm thu phí ở một số điểm nhất định như BOT Cai Lậy đã khiến cho không ít người đưa ra câu hỏi tò mò BOT là gì? Vì sao phải xây dựng chúng cũng như nhiều vấn đề liên quan khác. Bài viết trên website http://avolution.com.vn ngày hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu vấn đề này để có được lời giải đáp thích đáng nhất.

BOT là gì?

Trong hoạt động giao thông, chúng ta rất thường xuyên nghe đến khái niệm BOT. Vậy BOT là gì? Thực tế, đây là từ ngữ viết tắt của cụm từ Build – Operate – Transfe trong tiếng Anh và nó có nghĩa là hợp đồng xây dựng, kinh doanh và chuyển giao trong kinh tế bằng Tiếng Việt. Bản hợp đồng này có giá trị pháp lý rất cao và cần được tuân thủ nghiêm ngặt, nó sẽ được ký kết trong việc xây dựng cơ cấu hạ tầng giữa chủ đầu tư xây dựng và cơ quan nhà nước theo Khoản 3, Điều 3, Nghị định về Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư Hợp đồng. Dựa trên cơ sở đó, sau khi nhà đầu tư tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng thì họ có quyền được phép kinh doanh trên cơ sở hạ tầng đó ở một khoảng thời gian nhất định và chuyển giao nó cho các cơ quan của nhà nước, có thẩm quyền trong việc quản lý hệ thống cơ sở mới xây dựng.

bot là gì

 

Ở nước ta hiện nay thì hình thức đầu tư vào cho các công trình giao thông ở nước ta rất lớn mạnh, đặc biệt là theo dạng BOT. Với một quốc gia đang trên con đường xây dựng phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc làm này thực sự rất phù hợp, có ảnh hưởng tích cược tới sự phát triển kinh tế đất nước. Cũng vì nguồn lợi nhuận khổng lồ từ việc xây dựng BOT mà trong khoảng 5 năm trở lại đây, hình thức này càng được nhân rộng. Có hàng trăm hợp đồng BOT được ký kết và tiến hành xây dựng, thu lợi nhuận.

Chúng ta cần hiểu một cách đơn giản nhất, đó là BOT được xây dựng dựa trên cơ sở hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao giữa chủ đầu tư xây dựng ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công việc này. Trước khi chuyển giao công trình đã hoàn thiện cho nhà nước thì chủ đầu tư được phép tổ chức kinh doanh trên chính hệ thống cơ sở hạ tầng này. Đương nhiên,  việc làm đó chỉ diễn ra trong một thời hạn nhất định và khi hết thời hạn đó thì cần chuyển giao lại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Trạm thu phí BOT là gì?

Từ khái niệm BOT sẽ có thêm một khái niệm trạm thu phí BOT, đây không chỉ là định nghĩa nhiều người muốn hiểu rõ mà nó còn là từ được nhắc đến trong rất nhiều bất cập hay vấn đề nooit cộm của người dân. Ví dụ như nhà nước và một chủ đầu tư xây dựng ký kết với nhau một bản hợp đồng xây dựng dự án giao thông BOT. Số tiền bỏ ra để xây dựng đó là tiền của chủ đầu tư, và sau khi hoàn thành họ cần thu hồi vốn của họ bằng cách xây dựng một trạm thu phí đối với người lưu thông trên hệ thống giao thông đó. Và điểm thu tiền đó chính là trạm thu phí BOT. Tùy vào từng cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông mà chủ đầu tư sẽ đưa ra mức tiền thu phí phù hợp.

bot là gì

Hiểu một cách đơn giản hơn thì trạm thu phí BOT là điểm, là chốt mà các phương tiện trong diện phải nộp phí khi đi qua phải nộp tiền cho chủ đầu tư xây dựng, và trạm này phải nằm trên hệ thống BOT mà chính chủ đầu tư đó đã bỏ tiền ra để xây nên. Chỉ phương tiện lưu thông trên tuyến đường đó mới cần nộp phí mà thôi. Hiện nay, nhà nước sẽ quy định và có sự điều chỉnh mức phí sao cho phù hợp với từng dự án, từng thời điểm, loại phương tiện nhất định.

Đối tượng nào sẽ phải nộp tiền khi đi qua các trạm thu phí BOT?

Như đã nói ở trên, mức phí BOT sẽ do nhà nước quy định tùy từng đối tượng, tuyến đường và thời điểm. Vì thế sẽ có những đối tượng cần nộp phí, có đội tượng được miễn phí. Dưới đây là một số đối tượng phải thực hiện trách nhiệm nộp tiền cho các trạm thu phí BOT khi lưu thống qua tuyến đường mà trạm đó tồn tại.

  • Các loại phương tiện giao thông cần nộp phí là phương tiện cơ giới đường bộ, sẽ bao gồm tất cả những loại: sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, rơ moóc, xe máy, ô tô, xe mô tô hai bánh, xe gắn máy, mô tô ba bánh.
  • Các loại ô tô thuộc điều trên ( Tức là ô tô chịu phí đường bộ) sẽ không phải nộp phí khi thược diện: Ô tô bị hỏng hóc và cần sửa chữa trong vòng 30 ngày trở lên, xe bị tịch thu, xe bị hư hỏng, hủy hoại do tai nạn hoặc thiên tai.
  • Trong trường hợp những ô tô được miến phí đường bộ theo điều 2 mà đã nộp tiền phí thì sẽ được hoàn trả lại số tiền đã nộp theo đúng quy định ( Đối với xe không thể tái sử dụng được nữa), còn đối với xe vẫn có thể tiếp tực sử dụng như xe bị hư hỏng cần sửa chữa thì có thể sẽ trừ vào tiền phí cho đợt tiếp theo.
  • Đối với các loại xe ô tô của công an, lực lượng quốc phòng và xe nước ngoài tạm lưu hành ở Việt Nam thì không được áp dụng khoản 2 như trên.

Cái được và mất khi lập trạm thu phí BOT

Chắc chắn khi chúng ta lập ra các trạm thu phí BOT sẽ dẫn tới khá nhiều ảnh hưởng. Nó là những ảnh hưởng tích cực nhưng cũng kéo theo không ít tác động tiêu cực. Bởi vậy, nhà nước khi ký kết hợp đồng với các chủ đầu tư tiến hành thực hiện các dự án giao thông cần nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc cẩn trọng.

Xây dựng BOT mang đến nhiều lợi ích

Cái được ở đây là đất nước chúng ta đang trên con đường phát triên rtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa  nên việc đầu tư và triển khia các hệ thống giao thông là điều vô cùng cần thiết. Điều này không chỉ giúp ổn định nền kinh tế vi mô, phát triển kinh tế xã hội mà còn giảm đi tình trạng áp lực về nợ công, hệ thống giao thông tốt thì chắc chắn nền sản xuất, công cuộc giao lưu hàng hóa cũng đi lên. Chưa nói đến việc hướng tới mục tiêu xây dựng nghành công nghiệp không khói – du lịch cũng trở nên thuận lợi hơn.

Đất nước chúng ta gặp rất nhiều khó khăn vì giao thông chưa đảm bảo nên dẫn tới tình trạng ùn tắc ngoài đường, tai nạn thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng rất nhiều tới các hoạt động khác của con người và cả xã hội. Bởi thế việc hoàn thành các dự án cầu đường là vô cùng cấp bách. Trong khi đó ngân sách nhà nước lại khá hạn chế, vì vậy việc nhờ tới các chủ đầu tư là giải pháp tốt để tránh sự khủng hoảng lớn đối với kinh tế nước nhà. Đương nhiên, ký kết với các chủ đầu tư thì chúng ta phải đồng ý để họ kinh doanh trên hệ thống dự án đó bằng việc thu phí đối với người có phương tiện giao thông lưu hành trên tuyến đường đã xây dựng.

Những hạn chế trong việc xây dựng trạm thu phí BOT

bất cập trong làm bot

Tuy nhiên, ngoài những lợi ích thiết thực của việc xây BOT thì còn có khá nhiều vấn đề mà nhà nước cần tìm ra cách giải quyết. Đó là những vấn đề bất cạp mà nhân dân không thực sự ủng hộ, thậm chí họ còn phản đối bằng làn sóng vô cùng dữ dội, điển hình như vụ phản đối trạm thu phí BOT Cai Lậy hồi giữa năm. Việc tiến hành cải tạo, sửa chữa các tuyến đường đã có và đặt trạm thu phí đã khiến cho nhân dân phản ứng rất mạnh. Có không ít sự kiện người dân biểu tình, phản đối hành động này và gây ra cái nhìn thiếu mỹ quan cho đất nước, ảnh hưởng tới giao thông cũng như cuộc sống hàng ngày của mọi người.

Cũng không thể phủ nhận rằng một số công trình khi xây dựng chất lượng rất kém. Tuyến đường chưa hoạt động được bao lâu nhưng đã sụt lở, bong vỡ, vết xe hằn lên, trũng xuống gây ảnh hưởng rất nhiều tới an toàn khi cho phương tiện giao thông đi trên tuyến đường đó. Người dân cảm thấy rất bất mãn khi mà chất lượng công trình kém nhưng lại phải chịu mức phí rất cao.

Đặc biệt, vấn đề đặt trạm thu phí cũng là vấn đề nhức nhối mà đất nước chúng ta đang gặp phải. nhiều trạm thu phí xây dựng nhưng không đảm bảo mật độ giữa các trạm, đồng thời vị trí đặt trạm cũng không hợp lý nên dân chúng cảm thấy bất công và thiệt thòi. Vì thế có rất nhiều nơi họ đã phản đối hành động này. Ví dự đơn giản, trong tổng số 88 trạm thu phí thì có 70 trạm trên các tuyến quốc lộ thì có 10 trạm đạt khoảng cách 60 đến 70 km. Còn dưới 60km thì có tới 20 trạm và ngoài dự án BOT thì có tận 3 trạm thu phí được xây dựng lên một cách vô cùng vô lý. Trước sự phản ánh và chống đối quyết liệt của người dân thì nhà nước đã tiên shanhf xử lý được 6/74 trạm bất cập.

Đối diện với tình trạng này đồi hởi nhà nước cần phải có sự tính toán kỹ lưỡng hơn khi thực hiện các dự án BOT cũng như việc quản lý trạm thu phí sao cho phù hợp, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho nhân dân. Về chất lượng các công trình giao thông cần có sự kiểm soát gắt gao hơn. Không thể để tình trạng người dân phải trả tiền cho một hệ thống đường xá không chỉ xấu mà còn không đảm bảo an toàn như là sụt lún, ổ gà, mặt đường không bằng phẳng gây ra nguy cơ tai nạn rất cao. Tương tự như vậy, khoảng cách đặt trạm thu phí BOT cũng phải phù hợp, tuân thủ đúng quy định. Lợi ích của nhân dân là lợi ích cao nhất vì thế không nên dùng lý do xây dựng BOT để kinh doanh, kiếm lơi nhuận cho bản thân.

Kết luận

Trên đây chúng tôi đã trình bày khá rõ ràng và đầy đủ về khái niệm BOT là gì cũng như những đối tượng phải nộp lệ phí cho trạm thu phí BOT. Vai trò tích cực của việc xây dựng BOT là không thể phủ nhận nhưng cũng không được che dấu đi các hạn chế, tiêu cực. Từ đó tìm ra giải pháp tốt nhất cho hoạt động này đúng với ý nghĩa là nâng cao đời sống nhân dân, phát triển đất nước theo hướng hiện đại, công nghiệp.

avolution.com.vn – Định Nghĩa