Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

Nhạc cổ điển có phải chỉ là hàn lâm châu Âu được biểu diễn trong nhà hát sang trọng. Tìm hiểu kiến thức cơ bản về âm nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam.

Kiến thức cơ bản về âm nhạc cổ điển châu Âu

Định nghĩa nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc bắt nguồn từ truyền thống tế lễ trong tôn giáo ở phương Tây từ khoảng giữa thế kỷ XI. Tuy nhiên, phải đến giữa những năm 1550 và 1900 thì giới chuyên gia và học thuật mới khái quát thành các tiêu chuẩn chính của thể loại âm nhạc truyền thống, cho nên đây gọi là giai đoạn thực hành chung.

Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, thuật ngữ “nhạc cổ điển” bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX là thời kỳ xuất hiện những nhà soạn nhạc thiên tài như: Bach, Beethoven…

Lịch sử phát triển nhạc cổ điển châu Âu

Thời kỳ Trung cổ (trước thế kỷ 15)

Đây là thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại không khuyến khích biểu diễn âm nhạc, vì vậy, âm nhạc thời kỳ này bị suy tàn nghiêm trọng.

Đến thế kỷ thứ V – VII, thánh ca La Mã ra đời và được đặt theo tên của Giáo hoàng Gregory. Tuy nhiên đây chỉ là những giai điệu đơn âm, không có nhạc đệm. 200 năm sau, tức là thế kỷ thứ IX, giới hoạt động nghệ thuật mới bắt đầu sáng tạo ra những âm thanh sống động hơn, phức tạp bằng cách thêm bè vào giọng hát với nhạc thánh ca. Phong cách âm nhạc này gọi là organium và là hình thức âm nhạc phức điệu sớm nhất.

Tới cuối thế kỷ 12, người nghệ sĩ phát triển organium bằng cách thêm ba hoặc bốn bè giọng hát, tạo thanh những bài nhạc dài. Trong giai đoạn này các nhạc sĩ đã phát minh ra những ký hiệu âm nhạc tỉ mỉ với khuông nhạc 4-5 dòng kẻ, ký hiệu nhịp. người có công đâu trong những phát minh này là tu sĩ Ý dòng Benedictine Guido d’Arezzo.

Âm nhạc thời kỳ này đã biết sử dụng các nhạc cụ đàn organ, đàn dây như lyre, psaltery và fiddle thời trung cổ, hoặc đàn viele. hay nhạc cụ gõ như trống nhỏ và chuông.

Thời kỳ Phục hưng (1400 – 1600)

Phong cách âm nhạc được yêu thích thời kỳ này là những bản nhạc êm đềm và lãng mạn. Sau đó các nhà soạn nhạc mà đứng đầu là John Dunstable đã hướng đến sự đẩy mạnh âm nhạc đơn giản, thanh nhã.

Những nhà soạn nhạc thời Phục hưng viết nhạc đối âm bằng kỹ thuật mô phỏng khoảng cách trong một hay nhiều bè giọng có cùng giai điệu từ cuối thế kỷ 14. Hai giọng bè song song gần như cùng lúc, trong đó một giọng sẽ bắt chước theo một giọng khác trong một khoảng thời gian vừa phải hợp lý được gọi là một canon (luân khúc).

Những cặp bè giọng chuyển dịch trong một canon suốt cả tác phẩm hay một phần tác phẩm là đặc trưng của âm nhạc thời Phục Hưng.

Từ cuối thế kỷ 15 nhiều nhà soạn nhạc người Hà lan bắt đầu gây được tầm ảnh hưởng. Người hà Lan ưa thích kiểu âm thanh đồng nhất hơn, đối âm với mọi giọng bè, mỗi bè giọng có màu sắc riêng (một giọng solo được hai nhạc cụ solo khác đệm và trong đó một giọng sẽ trội hơn các giọng khác.

Một số nhà soạn nhạc Hà Lan đi đầu trong âm nhạc giai đoạn này là Jacob Obrecht, Johannes Okeghem, Josquin Desprez và Orlando di Lasso. Bên cạnh đó còn có nhạc sĩ người Ý Giovanni da Palestrina là đại diện cho dòng âm nhạc phức điệu hợp xướng ngang bằng trở thành tiêu chuẩn chính của âm nhạc Phục Hưng.

Thời kỳ Baroque (1600 – 1700)

Khi tính phức điệu của âm nhạc Phục Hưng vẫn còn thịnh hành thì nhiều người ý đã có ý tưởng về công cuộc thay đổi âm giọng và cấu trúc của âm nhạc.

Cuối thế kỷ 16, lần đầu tiên thể loại opera ra mắt và được biểu diễn tại ở Florence bởi nhà soạn nhạc người Ý Claudio Monteverdi.

Thế kỷ 17, khí nhạc ngày càng nổi bật hơn. Một vài khái niệm cơ bản về cấu trúc âm nhạc đã bị biến đổi, đặc biệt là ở Ý. Cụ thể, các nhà soạn nhạc chỉ tập trung vào các phần của soprano hay bass và lấp đầy những khoảng trống những hợp âm thay vì viết những bản nhạc mà trong đó tất cả các giọng từ soprano tới bass tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động âm nhạc.

Các thuật ngữ basso continuo và figured bass liên quan đến bè trầm và việc lấp đầy âm được sử dụng trong tất cả các thể loại âm nhạc, đặc biệt là các bài hát solo.

Cuối thế kỷ 17, khái niệm “khóa nhạc” thống trị nền âm nhạc và tạo ra trào lưu ngầm. Những nhà soạn nhạc nổi tiếng thời kỳ thế kỷ 17 –  thế kỷ 18 là các nhạc sĩ người Ý Alessandro Scarlatti, Domenico Scarlatti, các nhạc sĩ người Đức Heinrich Schutz, Dietrich Buxtehude, nhạc sĩ người Pháp Jean Philippe Rameau.

Thời kỳ cổ điển (1730 – 1820)

Các nhạc sĩ trẻ của thời kỳ này cho rằng đối âm của thời kỳ Baroque quá cứng nhắc khiến âm nhạc mất đi sự tự nhiên. Họ cần điều gì đó phóng khoáng hơn, cảm xúc hơn.

Ở Pháp, giới tinh hoa Pháp đại diện là nhà soạn nhạc người Pháp François Couperin sáng tạo ra phong cách mới gọi là rococo hay style galant (có nghĩa là “phong cách nhã nhặn”).

Phong cách này nhấn mạnh sự hòa hợp của giai điệu cùng với phần đệm âm thanh.

Những dòng nhạc không đứt quãng như thời Fugue thời Baroque được thay thế bằng những đoản khúc riêng biệt, giống như nhạc khiêu vũ. Đàn Harpsichord (clavico) trở thành  loại nhạc cụ phổ biến nhất giai đoạn này.

Người Đức tiếp tục ý tưởng và áp dụng viết một sinfonia khí nhạc độc lập một cách khéo léo. Cũng tại nước Đức chứng kiến sự khác biệt mới giữa phương tiện truyền đạt của âm nhạc thính phòng (chamber music), tức là mỗi nhạc cụ sẽ chơi phần của mình.

Các nhà soạn nhạc thính phòng giai đoạn này bắt đầu phân biệt string quartet (tứ tấu đàn dây), string trio (tam tấu đàn dây) và keyboard sonata (sonata đàn phím) với phần đệm của violin. Với các thể loại cho dàn nhạc, các nhà soạn nhạc không chỉ viết các symphony mà còn cả các concerto cho nhạc cụ solo cùng dàn nhạc.

Thể loại opera thế kỷ 18 cũng có nhiều thay đổi. Ở nước Ý, opera trở thành một loạt aria để người hát phô diễn giọng hát của mình. Một số nhà soạn nhạc châu Âu coi interlude và accompaniment khí nhạc như một yếu tố quan trọng…

Opera thời kỳ Cổ điển được coi là đạt tới đỉnh cao trong các tác phẩm sân khấu của Mozart. Ở đó, mọi khía cạnh của thanh nhạc lẫn khí nhạc đều góp phần vào sự phát triển của cốt truyện và sự mô tả tính cách nhân vật.

Thời kỳ Lãng mạn (1800 – 1910)

Đây là thời kỳ thăng hoa rực rỡ của thể loại opera thính phòng khi mà các tác phẩm của Haydn, Mozart, Beethoven chiếm lĩnh toàn bộ châu Âu. Thời gian này trường phái thẩm mỹ Lãng mạn đang lên cao ở Đức và Trung Âu. Các nhà soạn nhạc thời kỳ này thường lấy cảm hứng từ văn học, hội họa hay… dẫn đến sự ra đời của thể loại thơ giao hưởng.

âm nhạc cổ điển châu âu

Chính các bài thơ giao hưởng trong giai đoạn này lại là cơ sở đề hình thành nên thứ âm nhạc khắc họa hình ảnh và tâm trạng của lời ca. Người Đức gọi những bài hát nghệ thuật của họ là lied (số nhiều là lieder). trong thế kỷ 19 đã có hàng trăm lieder được viết. Những nhà soạn nhạc của thể loại này là Johannes Brahms, Franz Schubert, Robert Schumann, Hugo Wolff và Richard Strauss.

Thế kỷ 19, opera lên ngôi. Những nhà soạn nhạc Gasparo Spontini và Giacomo Mayerbeer ở Pháp sáng tạo ra thể loại grand opera. Trong khi đó, Jacques Offenbach phát triến thể loại comic-opera.

Còn tại Ý, phong cách opera truyền thống bel canto từ thế kỷ 18 vẫn được tiếp tục. Tại Đức, Richard Wagner sáng tạo ra một phong cách opera mới mang tính kịch và triết học cao gọi nhạc kịch (drama music). Wagner hướng tới xây dựng những đoạn nhạc ngắn của giai điệu và hòa thanh, gọi là leitmotifs (motif chủ đạo).

Những nhạc sĩ để lại dấu ấn trong thế kỷ 19 là Schubert, Schumann, Brahms, nhạc sĩ người Đức Felix Mendelssohn, Nhạc sĩ người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky,  nhạc sĩ người Áo Anton Bruckner, nhạc sĩ Ba Lan Frederic Chopin với thể loại âm nhạc không tiêu đề rất phóng khoáng.

Cuối thế kỷ 19, phong cách âm nhạc Lãng mạn có thay đổi chút ít bởi sự phát triển của hợp âm.

Thời kỳ Hiện đại (1890 – 1975)

Đầu thế kỷ 20, khoa học công nghệ phát triển khiến giới nhạc sĩ và người hoạt động nghệ thuật cũng phải thay đổi. Nhóm nhạc sĩ ở Vienna đứng đầu là Arnold Schoenberg cho rằng nên từ bỏ tính điệu trong âm nhạc. Phản ứng với đề xuất này, nhạc sĩ Rachmaninov vẫn trung thành với chủ nghĩa lãng mạn tới tận năm 1940 trong khi những người khác như Sibelius thì ngừng sáng tác.

Nhiều nhà soạn nhạc khác lấy cảm hứng từ âm nhạc dân gian. Tuy nhiên, yếu tố ảnh hưởng nhất tới âm nhạc thời kỳ này chính là đời sống chính trị  – xã hội châu âu. Ví dụ, George Gershwin hay Duke Ellington sau đó đã viết ra một thứ âm nhạc sang trọng để biểu diễn trong phòng hòa nhạc. Những nhạc sĩ tài hoa của châu Âu như Stravinsky và Ravel lại mang cả jazz vào âm nhạc của mình.

Các đề tài bạo lực như chiến tranh Thế giới thứ 2 hay các vụ thảm sát trở thành những đề tài gai góc của các nhà soạn nhạc châu Âu bấy giờ. Có thể kể ra Pierre Boulez, John Cage, Gershwin…

Đặc điểm của âm nhạc cổ điển châu Âu

Trải qua thời gian dài hình thành, phát triển, các nhà nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm chính của dòng nhạc cổ điển châu Âu.

Chất nghệ thuật

chất nghệ thuật

Bản thân âm nhạc đã là một môn nghệ thuật mà âm nhạc cổ điển là nghệ thuật âm nhạc phát triển sớm ở châu Âu. Từ cổ chí kim, âm nhạc là nơi nhạc sĩ gửi gắm tâm hồn, tình cảm trong từng lời ca, giai điệu.

Chất văn học

Có cả một giai đoạn, các nhà soạn nhạc châu Âu lấy cảm hứng sáng tác từ chính văn học, rồi lại từ âm nhạc chuyển thành một thể loại văn học là thơ giao hưởng. Âm nhạc cổ điển được ghi lại bằng các ký hiệu do đó mỗi bản nhạc được lưu lại đều là một tác phẩm văn học.

Chất kỹ nghệ

Người nhạc sĩ không thể viết nhạc mà không có kiến thức về nguyên tắc âm, khí… Âm nhạc cổ điển lại càng đòi hỏi sự hiểu biết kiến thức sâu rộng, uyên thâm hơn.

Tính phát triển và xã hội

Từng thời kỳ từng chế độ, âm nhạc cổ điển lại lại phát triển lên một tầm cao mới cùng với thời đại. Các nhà soạn nhạc thay đổi âm nhạc của mình cùng với sự phát triển xã hội. Sự phát triển tịnh tiến của âm nhạc cổ điển thể hiện từ cách sáng tạo ngôn ngữ và giai điệu, cho tới việc chuyển tài các vấn đề thời cuộc vào bản nhạc.

Âm nhạc cổ điển ở Việt Nam

Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng công chúng Việt Nam đã tiếp cận với âm nhạc cổ điển từ cả trước khi hình thành nền tân nhạc. Có thể, sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp đã đem âm nhạc cổ điển tới với người dân Việt Nam.

nhạc cổ điển việt nam

Từ năm 1928 ở Hà Nội và Sài Gòn đã có những buổi Concert Symphonique. Giai đoạn này, nhiều nghệ sĩ nước ngoài đến biểu diễn các tác phẩm của Mozart, Beethoven, Chopin, Gounod bằng violon và piano.

SAu thời gian dài chỉ biết tiếp nhận, giới trí thức Việt cũng hướng đến một cách tiếp cận khác là chủ động tìm hiểu và học hỏi về âm nhạc cổ điển. Những năm 1954 – 1956 là thời kỳ chuẩn bị lực lượng cho âm nhạc cổ điển Việt Nam một cách thực sự bài bản.

Tạ Bôn, Lã Hữu Toản (violon), Hoàng Đạm (sáng tác), Trần Ngọc Xương, Phạm Đình Sáu, Lê Bích (flute), Hoàng Vân là những lứa nghệ Việt đầu tiên được xuất ngoại sang Trung Quốc học nhạc vào năm 1954.

Tới năm 1956 có Trọng Bằng, Quang Hải, Trần Quý (chỉ huy) trong lứa đầu tiên được du học Liên Xô.

Năm 1959, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam với 114 nhạc công đã được đầu tư ra nước ngoài học tập. Đến năm 1963 những nghệ sĩ này trở về và nước nhà có Nhà hát Giao hưởng – Hợp xướng – Vũ kịch Việt Nam. Nhà hát đã dàn dựng và biểu diễn các tác phẩm lớn của W.A.Mozart, L.v.Beethoven, P.I.Tchaikovsky… và gây được tiếng vang lớn.

Thời kỳ vàng son của nhạc cổ điển Việt Nam là những năm 60 của thế kỷ 20. Nhiều tài năng âm nhạc cổ điển được sản sinh và tạo điều kiện phát triển. Hàng loạt tác phẩm giao hưởng của Việt Nam ra đời và đến được với công chúng. Có thể kể ra những tác phẩm: “Giải phóng Điện Biên” (Hoàng Đạm), “Lửa cách mạng” (Trần Ngọc Xương), “Quê hương” (Hoàng Việt)… Bên cạnh đó là một số nhạc kịch như “Cô Sao” (Đỗ Nhuận), “Bên bờ Krông Pa” (Nhật Lai)…

Thế nhưng đó chỉ là quá khứ. Phải đến những thập niên 2000, âm nhạc cổ điển Việt mới lại được nói đến bởi những cái tên Đặng Thái Sơn, Tôn Nữ Nguyệt Minh… Họ là những lứa tài năng đầu tiên của âm nhạc cổ điển Việt Nam hiện đại, được đầu tư bài bản và đạt thành tích trên trường quốc tế.

Ngoài ra còn nhiều tài năng hứa hẹn khác đã và đang du học và làm việc tại nước ngoài như Hoàng Linh Chi (Tây Ban Nha), Văn Hùng Cường, Nguyễn Hữu Nguyên, Nguyễn Hữu Khôi Nam (Pháp), Trần Hữu Quốc (Hàn Quốc), Quốc Trường (Mỹ), Bích Trà (Anh)…

Trong khi đó, công cuộc tìm kiếm và đào tạo tài năng cho âm nhạc cổ điển Việt hiện vô cùng khó khăn. Tại Nhạc viện TP.HCM, các ngành âm nhạc giao hưởng như viola, trombone, basson, contrebasse… nhiều năm thậm chí không có người học. Do đó, dàn nhạc của Nhà hát nhạc vũ kịch không có thể tuyển người.

Những năm qua, Nhạc viện Tp.HCM đang triển khai nhiều chương trình biểu diễn nhằm đem nhạc giao hưởng tới với các trường học bậc tiểu học và trung học cơ sở, nhằm lan tỏa tình yêu âm nhạc cổ điển và phát hiện tài năng mới. Âm nhạc nước nhà vẫn chưa tìm ra được thế hệ tài năng kế cận Đặng Thái Sơn hay Tôn Nữ Nguyệt Minh…

Nâng cao dân trí âm nhạc cho công chúng Việt là biện pháp duy nhất để duy trì và phát triển âm nhạc cổ điển Việt.

 

Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Bạn đam mê âm nhạc và muốn trở thành một nhà viết nhạc. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu tới các bạn kiến thức hợp âm là gì? Lý thuyết cơ bản về hợp âm trong âm nhạc.

Hợp âm là gì?

Định nghĩa hợp âm là gì?

hợp âm cơ bản

Hợp âm là một chuỗi âm thanh được tạo thành từ nhiều nốt nhạc vang lên cùng lúc theo một trật tự nhất định, bởi nếu không tuân theo quy luật thì mới chỉ là chồng âm. Hợp âm được xây dựng từ hai hay nhiều quãng 3.

Trong hợp âm, nốt nhạc dùng làm nền được gọi là nốt chủ âm. Các nốt khác được gọi theo tên của quãng mà chúng tạo thành với nốt chủ âm.

Trước hết cần tìm hiểu khái niệm về Gam. Mỗi gam có một hệ thống hợp âm của riêng nó gồm 7 hợp âm tức một gam gồm có 7 nốt nhạc.

Ví dụ Gam Son trưởng có 7 nốt Đồ Rê Mi Fa Sol La Si Đô. Khi một bài hát sử dụng gam Son trưởng thì chỉ sử dụng 7 nốt nhạc này ở những cao độ khác nhau (Son, Sòn, Són,…  trừ trường hợp thăng giáng bất thường).

Ký hiệu và cách đọc tên hợp âm

Âm nhạc quy ước có 3 hợp âm chính là hợp âm G, C, D. Để biết 1 gam có bao nhiêu hợp âm lấy 7 nốt nhạc và tạo thành tất cả những hợp-âm-ba

Trong lý thuyết âm nhạc quy ước, dùng chữ cái để ký hiệu các loại hợp âm trưởng.

Cụ thể, C là Do trưởng, D là Re trưởng, E là Mi trưởng, F là Fa trưởng, G là Sol trưởng, A là La trưởng, B là Si trưởng

Hợp âm thứ được ký hiệu bằng các chữ cái ký hiệu hợp âm trưởng + chữ cái “m” phía sau. Cm là Do thứ, Dm là Re thứ, Em là Mi thứ,Fm là Fa thứ, Gm là Sol thứ, Am là La thứ, Bm là Si thứ.

Hợp âm bảy được ký hiệu bằng chữ cái hợp âm trưởng và số 7. C7 là Do bảy, D7 là Re bảy, E7 là Mi bảy ,F7 là Fa bảy, G7 là Sol bảy, A7 là La bảy, B7 là Si bảy.

Từ những ký hiệu và cách viết trên ta có thể kết hợp chúng lại và gọi tên hợp âm:

Ví dụ: Bbm đọc là Si giáng thứ

Bb đọc là Si giáng trưởng

C#m đọc là Đô thăng thứ

Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc trên thế giới, hợp âm được dùng nhiều trong nhạc Tây Phi hiện đại và nhạc cổ điển châu Âu. Một số vùng khác không có khái niệm hợp âm trong lý thuyết âm nhạc như thể loại âm nhạc truyền thống của các quốc gia khu vực Đông Nam Á.

Cấu tạo của hợp âm

cấu tạo hợp âm

Tạo hợp âm từ 2 hay nhiều quãng 3 chồng lên nhau

Hợp âm trưởng

Tạo hợp âm trưởng theo cách này gồm có nốt gốc + nốt ở quãng 3 trưởng + nốt ở quãng 5 (quãng 5 đúng).

Nếu tính theo cung, hợp âm trưởng = nốt gốc + nốt gốc thêm 2 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung.

Ví dụ C trưởng: các nốt sẽ là C E G

Hợp âm thứ

Theo cách tạo chồng âm, hợp âm thứ = nốt gốc + nốt ở quãng 3 thứ + nốt ở quãng 5 (quãng 5 đúng).

Tính theo cung thì hợp âm thứ = nốt gốc + nốt gốc thêm 1,5 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung.

Ví dụ C thứ được ký hiệu Cm gồm các nốt sẽ là C Eb G

Tạo hợp âm từ các bậc 1, 3 và 5 của thang âm

Hợp âm giảm hay Dim

Cấu tạo hợp âm giảm hay Dim chính nốt gốc cộng với nốt ở quãng 3 thứ và nốt quãng 5 giảm. Hợp âm dim được tạo ra khi từ hợp âm thứ đứng đầu dịch lên 1 cung.

Tính theo cung hợp âm giảm hay dim được tạo nên từ nốt gốc cộng với nốt gốc thêm 1,5 cung và nốt gốc thêm 3 cung

Ví dụ C giảm ký hiệu là Cdim thì các nốt sẽ là: C Eb Gb

Các hợp âm tăng hay AUG

Hợp âm tăng hay AUG có cấu tạo từ nốt gốc + nốt ở quãng 3 trưởng + nốt ở quãng 5 tăng

Nếu tính theo cung hợp âm này gồm nốt gốc + nốt gốc thêm 2 cung và nốt gốc thêm 4 cung

Ví dụ C tăng ký hiệu là Caug thì các nốt sẽ là: C E G#

Các hợp âm treo

Định nghĩa: Hợp âm treo (hay còn được gọi là sus) chính là hợp âm bị thay đổi nốt ở quãng 3 thành nốt ở quãng 4 hoặc quãng 2.

Khi hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 2 có ký hiệu sus2 thì được cấu tạo bởi nốt gốc + nốt ở quãng quãng 2 trưởng + nốt ở quãng 5 đúng

Tính theo cung hợp âm treo gồm: nốt gốc + nốt gốc thêm 1 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung

Ví dụ hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 2 ký hiệu là Csus2 gồm các nốt là C D G

Khi hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 4 có ký hiệu sus4 thì cấu tạo gồm: nốt gốc + nốt ở quãng 4 đúng + nốt ở quãng 5 đúng

Tính theo cung hợp âm treo thay đổi sang nốt ở quãng 4 cấu tạo gồm: Nốt gốc + nốt gốc thêm 2,5 cung + nốt gốc thêm 3,5 cung

Ví dụ Csus4 gồm các nốt là C F G

Các bộ hợp âm cơ bản

Trong 1 bộ hợp âm cơ bản ta thường sẽ có 7 hợp âm.

& hợp âm này gồm: 3 hợp âm thứ + 3 hợp âm trưởng + 1 hợp âm dim .

Quy tắc hợp âm Song Song

Quy tắc hợp âm song song tức là trong bộ hợp âm có 1 hợp âm thứ song song với 1 hợp âm trưởng. Cách tính hợp âm này là từ hợp âm thứ có sẵn tiến lên 1,5 cung ta sẽ có hợp âm trưởng song song với hợp âm thứ đó.

Quy ước cách tính hợp âm song song:

Hợp âm thứ hoặc trưởng đứng đầu sẽ là bậc 1 và 2 hợp âm còn lại sẽ là bậc 4 và 5 của nó

Bậc 1 >> bậc 4 cách nhau 2,5 cung

Bậc 4 >> bậc 5 cách nhau 1 cung.

Khi ta đã biết 2 hợp âm thứ và trưởng song song đứng đầu, quy tắc này cho phép ta tính được 2 hợp âm thứ hoặc hợp âm trưởng còn lại.

VD: Tính bộ hợp âm của Am // C. Dựa vào hợp âm thứ đứng đầu là Am, tính 2 hợp âm thứ còn lại.

Cu thể, Theo quy ước nốt nhạc trong GAM, tính A là bậc 1 do đó bậc 4 và 5 tiếp theo là D và E.

Đến đây tiếp tục xét A bậc 1 và D bậc 4 đã thoả mãn yêu cầu cách nhau 2,5 cung chưa.

Nếu bậc 1 lớn hơn bậc 4 và mới cách nhau 2 cung thì bậc 4 phải thăng lên nửa cung

Nếu bậc 1 lớn hơn bậc 4 đủ 2,5 cung thì giữ nguyên bậc 4

Nếu bậc 1 lớn hơn bậc 4 cách nhau là 3 cung thì giáng bậc 4 xuống nửa cung

Như vậy ở đây ta thấy hợp âm A cách hợp âm D (hợp âm A bậc 1 lớn hơn hợp âm D bậc 4)) đủ 2, 5 cung.

Mặt khác, hợp âm D (bậc 4) lớn hơn hợp âm E (bậc 5) vừa đủ 1 cung. Do đó hợp âm D và E không cần thăng (#).

Trên đây là tổng hợp những kiến thức hợp âm là gì. Lý thuyết cơ bản về hợp âm. Hy vọng bài viết hữu ích với những ai có nhu cầu tìm hiểu kiến thức âm nhạc.

Tin liên quan

>>Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

 

 

avolution.com.vn

Một số loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất trên thế giới

Một số loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất trên thế giới

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam là sáng tạo hết sức đặc sắc trong đời sống văn hóa của cha ông ta. Tìm hiểu về những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam được đánh giá là độc đáo nhất trên thế giới. 

Khái quát về nhạc cụ dân tộc Việt Nam

Tin liên quan

>>Kiến thức cơ bản về nhạc cổ điển thế giới và Việt Nam

>>Hợp âm là gì? Lý thuyết âm nhạc cơ bản về hợp âm

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam là những tìm tòi và phát minh ra những đồ vật có khả năng phát ra âm thanh. Đây là có thể là những đồ vật, vật thể có sẵn trong tự nhiên và gần gũi với đời sống con người như hòn đá, ống tre, ống nứa…

nhạc cụ dân tộc việt nam

Những loại nhạc cụ dân tộc cho ra những thứ âm thanh độc đáo, không thể bắt chước. Dù cho nhạc cụ hiện đại ngày càng phổ biến và phát triển nhưng nhạc cụ dân tộc vẫn có vai trò quan trong trong văn hóa người Việt. Nó đại diện cho văn minh của từng cộng đồng người, từng địa phương.

Ở Việt Nam có hàng trăm nhạc cụ dân tộc, trong đó có hàng chục loại nhạc cụ vô cùng độc đáo, đặc sắc và được đánh giá cao về chuyên môn.

Những loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam độc đáo nhất

Sáo trúc

sáo trúc

Cha ông ta từ xa xưa đã biết cách biến những thân cây trúc hoặc tre vừa dài vừa thô thành một loại nhạc cụ phát ra thứ âm thanh cao vút. Chỉ những thân cây tre hoặc trúc nhỏ với đường kính khoảng 1.5cm mới có thể làm được sáo. Cây sáo thường dài 30cm, trên thân ống được khoét một lỗ thổi có lưỡi gà, và có 6 hoặc 10 lỗ bấm.

Hình ảnh cây sáo thường gợi lên cuộc sống nông thôn yên bình, những đứa trẻ chăn trâu thổi sáo ngoài cánh đồng…

Sáo trúc có thể độc tấu hoặc hòa tấu cùng dàn nhạc cổ truyền hay dàn nhạc giao hưởng thính phòng.

Đàn bầu

đàn bầu

Đàn bầu hay còn gọi độc huyền cầm là một loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam hết sức độc đáo. Độc huyền cầm nghĩa là đàn chỉ có một dây. chạy dài theo thân đàn. Trước đây dây đàn được làm bằng tơ tằm, cần đàn được làm bằng tre. Ngày nay, dây đàn được thay bằng sắt, cần đàn được làm bằng sừng trâu.

Đàn bầu có hai loại làm bằng thân tre hoặc thân gỗ. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc gỗ tiện hình nậm bầu. Còn trục lên dây bằng tre hoặc gỗ. Que gẩy đàn được gót bằng giang hoặc song, có đầu nhọn và được làm bông lên.

Âm thanh của đàn bầu vừa trầm ấm vừa thê lương, vừa sâu lắng vừa ai oán đi vào lòng người.

Đàn nhị

đàn nhị

Đúng như tên gọi, đàn nhị có nghĩa là đàn có hai dây, có tên gọi khác là đàn cò. Một cây đàn nhị có cấu tạo gồm năm phần: cần đàn, thùng đàn, thủ đàn, ngựa đàn và dây đàn.

Đàn nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng 8, âm thanh trong trẻo, cao vút thường được ví như những tiếng hờn nỉ non.

Đây là loại đàn giữ vai trò chủ đạo trong hát xẩm. Nhạc cụ này cũng không thể thiếu trong dàn nhã nhạc, phường bát âm, biểu diễn chầu văn…

Ngoài người Kinh, một số tộc người khác cũng sử dụng đàn nhị như người Tày, người Nùng, Mường, Dao, Giáy…

Phách

phách

Phách là thể loại nhạc cụ bộ gõ, phổ biến trong nhiều thể loại ca múa nhạc Việt Nam. Cấu tạo của phách gồm có bàn phách, tay ba và hai lá phách. Bàn phách là miếng tre dài khoảng 30 cm, bản rộng khoảng 4 cm. Hai lá phách là dùi gõ kép. Người chơi cầm 2 lá phách chập vào nhau để gõ vào mặt bàn phách. Tay ba là dùi gõ thường được làm bằng gỗ mít, dài như 2 lá phách, thường được người chơi cầm bằng tay trái.

Trong mỗi loại hình biểu diễn, phách lại có tên gọi khác nhau. Trong diễn tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian thì chỉ gọi là phách. Trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang, trong hát xẩm gọi phách là cặp kè; trong ca Huế phách gọi là sênh (hoặc sênh tiền)…

Cồng chiêng

cồng chiêng

Cồng chiêng là nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng nhiều dân tộc ở các quốc gia Đông Nam Á. Tại Việt Nam, cồng chiêng có mặt trong đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và người Mường ở phía Bắc.

Cồng chiêng thuộc bộ gõ, làm bằng chất liệu đồng, thau, hình dạng gần giống như chiếc nón quai thao. Cồng chiêng có kích thước khá đa dạng từ 20 – 60 cm.

Cồng chiêng là tên gọi chung nhưng cồng và chiêng có nhiều điểm khác nhau. Cồng có núm, còn chiêng không có núm.

Cồng chiêng được sử dụng trong nhiều dịp như mừng vụ mùa bội thu, mừng già làng trưởng bản hay các dịp lễ hội trong năm…

Đàn đá

Đây được coi là loại nhạc cụ thuộc bộ gõ lâu đời nhất của Việt Nam. Từ xa xưa, cha ông ta đã chọn lọc chế tác những tảng đá thô sơ thành những tảng đá có thể phát ra âm thanh.

Bất kỳ tảng đá nào có kích thước và hình dạng khác nhau có khả năng phát ra âm thanh sẽ được gọt dũa và sử dụng.

Tảng đá dày và to cho âm thanh trầm, chắc, tảng đá nhỏ và mỏng cho tiếng nhẹ nhàng, âm cao.

Đàn đá phổ biến trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và người Khmer ở Nam Trung Bộ. Do đặc điểm dân cư gắn liền với núi rừng thiên nhiên, con người chế tạo ra loại đàn đá phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Đàn T’rưng

đàn t'rung

Đàn T’rưng cũng loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên. Cái tên “t’rưng” là xuất phát từ tiếng Gia Rai.

Loại đàn này làm bằng ống tre hoặc nứa có kích thước khác nhau. Các ống có đường kính 3-4 cm, dài từ 40- 70 cm. Mỗi ống giữ nguyên các đầu mấu để bịt một đầu ống, còn đầu kia được gọt vát một phần ống để tạo âm theo chuỗi hàng âm.

Phổ biến một cây đàn T’rưng hiện nay có khoảng 12 đến 16 ống xếp hàng ngang trên giá theo thứ tự từ lớn đến nhỏ từ dài đến ngắn.

Người ta chơi đàn T’rưng bằng cách dùng dùi gõ vào các ống. Các ống to nhỏ dài ngắn khác nhau sẽ cho ra những âm thanh cao thấp trầm bổng khác nhau. Ống tre to và dài cho ra âm thanh trầm, những ống nhỏ và ngắn cho ra những âm cao. Tiếng đàn t’rưng cho ta cảm giác những âm thanh chỉ có trong núi rằng tự nhiên như: tiếng suối róc rách, tiếng xào xạc của rừng tre nứa khi gió thổi, tiếng thác đổ…

avolution.com.vn – Âm Nhạc